Showing posts with label Gia đình. Show all posts
Showing posts with label Gia đình. Show all posts

Thursday, January 30, 2014

Khói bay vô mắt!



đoàn xuân thu. melbourne.

Con của má   viết xong một bài văn, đôi khi đọc lại thấy cũng có cái trúng mà cũng có cái trật; nhưng điều mà con sắp nói ra lần nầy chắc chắn là trúng. Trúng trăm phần trăm! Cái đó là: Ai cũng có Mẹ, ai cũng có Má hết! Và ai cũng thương Mẹ, ai cũng thương Má mình sâu thẳm tận đáy lòng. Con cũng không là ngoại lệ!



Chiều cuối năm, quê người, năm hết, tết đến chợt nhớ Má, nhớ Ba biết bao nhiêu mà nói!
Nhớ năm 1964, ông Trưởng Ty Bưu Điện Ban Mê Thuột đương nhiệm, bất ngờ ôm hết tiền trong két sắt, dắt vợ con mà dông tuốt qua Lào. Số tiền nghe đâu cũng khẳm, lên tới vài ba triệu, (lúc đó là rất lớn, vì vàng chỉ khoảng hai ngàn đồng một lượng). Đó là tiền của mấy ông chủ đồn điền cà phê trên cái xứ Ban Mê Thuột nầy gởi.

Ban Mê Thuột trước năm 1975
(Hình http://bactuthuc.blogspot.com.au )
Ban Mê Thuột là đi 7 phút đã về chốn cũ, đi lâu hơn Pleiku được 2 phút, vì lớn hơn một chút. Mấy ông nhà văn, gốc lính, đến đây viết bài gọi tưng nó lên, là thủ phủ cao nguyên, nơi đóng bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Ban Mê Thuột viết tắt là B.M.T nên thiên hạ chơi chữ, đặt cho vài cái mỹ danh là ‘Bụi Mù Trời!’; vì tỉnh lỵ vốn nằm trên vùng đất bazan, đỏ quạch, sình tới ống chân, nhão hoét khi mùa mưa tới, rất tốt cho mấy đồn điền trồng cà phê. Mùa nắng, xe qua, cuốn theo từng lốc bụi mù. Xứ rừng, chim kêu, vượn hú, vui sao được? Nên còn gọi là cái xứ ‘Buồn Muôn Thuở!’

Sau cái vụ thụt kết rồi chạy của ông ‘thần’ nầy, mấy xếp lớn trên Tổng Nha Bưu Điện lo sốt vó, bèn điều một ông khác từ Sài Gòn lên trên ấy để sắp xếp, kiểm tra lại sổ sách coi ông Trưởng Ty cũ chính xác ôm theo hết bao nhiêu tiền, để biết mà bồi thường cho khách hàng ký gởi. Ông nầy không muốn đi, bèn xách giấy vô nằm nhà thương, né, vì sợ chết… do tình hình chiến sự ở vùng cao nguyên lúc đó đã bắt đầu ác liệt. Quốc lộ 14 từ Ban Mê Thuột đi Buôn Hồ, ngược về hướng Bắc lên tới phố núi cao, phố núi đầy sương, Pleiku, hay chạy về hướng đông, hướng biển, để tới Tuy Hòa bị VC cắt hoài bằng cách đắp mô, giựt mìn, phục kích công voa. Từ Sài Gòn ra Ban Mê Thuột phải bay bằng máy bay cánh quạt DC-3 của hãng Hàng Không Việt Nam.

Ba bị điều đi, mấy ổng hứa: “Đi đi! Hai tháng rồi về!”, nên không thoái thác được, dù Ba Má rất đông con. Cả 7 đứa leo nheo lóc nhóc ở Cư Xá Bưu Điện Hai Bà Trưng. Ba đi, phải làm giấy ủy quyền cho Má tới cuối tháng là ra phòng lương bổng của Tổng Nha Bưu Điện lãnh một phần lương về để nuôi mấy đứa con. Nhà nghèo, chỉ có một đầu lương của Ba. Giờ còn phải chia hai. Nhà vắng Ba như thiếu cái cột cái, thiếu cái mái. Gió! Trống huơ, trống hoác!

Tới bữa, cơm không thiếu nhưng đồ ăn thì dè xẻn lắm! Có bữa không có đồ ăn luôn! Má phải nấu cơm hơi nhão rồi nén lại, cuốn vô mo cau, xong dùng chỉ tét thành từng khoanh như bánh tét cho tụi con chấm với nước mắm kho quẹt ăn mà trừ bữa. Hồi còn Ba ở nhà, Ba đi đánh máy mướn thêm, nên cũng có đồng vô đồng ra mà đắp đổi. Ba đi, nhà vắng, tiền cũng ‘hẻo’ theo luôn. Và Má dàu dàu buồn vì vắng chồng vốn đã quen hơi hướm! Sớm tối có nhau!
Mấy ông quan lớn, ăn trên ngồi trốc, thiệt không có chút từ tâm nào mà hiểu, mà cảm thông cho hoàn cảnh gia đình của cấp dưới! Mấy ổng chỉ lo cho thân mấy ổng mà thôi! Hứa hão là Ba đi chỉ hai tháng ; mà rốt cuộc Ba phải xa nhà, xa vợ, xa con hơn cả năm trời. Ở nhà chỉ Má, một mình, chèo chống!
Má thương con ăn đói, nên cuối tháng ra sở lãnh lương của Ba về, Má xuống cái tiệm bán bê thui nằm gần cầu Kiệu và chợ Tân Định mua đâu khoảng 300 gram thịt bê thui. Về, má bắt chảo lên cho mỡ vào, xào với đậu phộng, bún tàu, củ hành. Dọn ra một dĩa, nhỏ xíu, lớn hơn bàn tay một chút. Vậy mà khói bay lên, thơm phức. Con chạy u ra chợ, mua về thêm bốn ổ bánh mì thiệt bự! Rồi Má kêu mấy anh em con xúm lại mà ăn! Mà ngộ! Má không ăn gì hết! Hỏi: “Sao Má hõng ăn gì hết! Má!” “Ờ! Má xào, cái hơi nó lên no rồi! Tụi con ăn đi!”
Nhỏ khờ đâu biết Má nói vậy là để nhường mấy miếng thịt bê ít ỏi, bé tí teo đó cho đám con mình. Nên tụi nhỏ thiệt tình tranh nhau đớp láng! Dĩa thịt bò hết sạch, vẫn còn thòm thèm, ngẩng nhìn lên, thấy mắt má chớp chớp. Má nói bâng quơ: “Củi ướt quá, khói bay vô mắt Má!”
Sau nầy lớn lên, xa Má, xa Ba, con lập gia đình, rồi bận bịu lo cho vợ cho con. Nước mắt cứ chảy xuôi hoài vậy sao cà? Rồi vợ chồng con cái bỏ nước ra đi. Và Má với Ba đều mất. Ngẫm lại! Có trả hiếu được đồng xu cắc bạc nào đâu để bù lại những ngày Má nhịn; cho đám con mình đỡ thèm ‘cao lương mỹ vị!’ Mà thiệt thịt bê thui xào đậu phộng đâu có phải là ‘cao lương mỹ vị’ gì cho cam ở cái đất nước Úc Châu này!
Cuối năm, quê người, vậy là con xa Má gần hai mươi năm rồi đó mà không về tảo mộ. Xin má đừng buồn! Con nhớ khói bếp quê nhà dữ lắm! Con cũng muốn về quê cũ, thăm mộ má, thắp một nén nhang để thưa với má rằng: Thằng con của Má ngày xưa giờ đây không còn đói nữa; mà phải nói còn hơn là no đủ. Là phủ phê, là thừa mứa! Hõng phải chỉ có tụi con không đâu mà bất cứ người nào, rất bình thường như làm hãng ở đất nước Úc nầy cũng y như vậy! Nếu con về tảo mộ má chắc là được rồi, chắc cũng có đủ tiền để mua vé máy bay, bay về với Má; nhưng về khi quê nhà mình vẫn còn tan hoang, con no đủ trong khi bà con mình vẫn chìm trong thiếu đói, thì trong tận đáy lòng con, con thấy mình hình như có lỗi với quê hương mình nhiều lắm đó! Má ơi!


“Chiều em đi chợ Footscray,

mua dùm anh ba ký bê thui!"
Vợ con, hơi ngạc nhiên, hỏi lại: “Mua chi nhiều dữ vậy? Ăn hõng hết, bỏ tủ lạnh, thịt cũ lần sau ăn, hõng có ngon! Mà anh muốn ăn món gì?”

“Đừng có cãi! Mua cho anh ba ký! Tiền nè!

Vợ con nghe lời chồng sai, bèn cầm tiền te te, rẹt rẹt đi ra chợ. Về nhà, nó hỏi: “Anh muốn ăn món gì? Để em làm!”

“Thì bê thui xào củ hành, đậu phộng với bún tàu!”

“À! Bê thui xào lăn!”

Rồi nó bày ra thớt, thịt bê thui xắt nhỏ, vừa gắp, trộn với tương hột, nước cốt dừa, đậu phộng rang. Uớp thêm gia vị: hạt nêm, tiêu, đường, hành tỏi bằm, bột cà ri, bún tàu, nấm mèo, ớt tươi rồi thêm hành tây, hành lá, mò om! Đủ hết trơn hõng thiếu một món gì! Rồi nó xẹt xẹt, bật lò ga nghe cóc cóc, đặt chảo lên cho nóng, đổ dầu ô liu, hành, tỏi vào phi vàng, xào với bột cà ri. Thơm phức! Xong trút thịt vào chảo chung với nấm mèo, hành tây, nước cốt dừa. Lấy cái xạng mà xào tới xào lui! Nước từ cả ba ký thịt bê thui tươm ra, hơi sắc lại, là nó bắc xuống bếp. Đổ thịt bê thui lên từng cái một, trên một chồng dĩa chừng chục cái, rắc đậu phộng đâm dập dập; rồi ngắt mấy cọng mò om rắc lên mặt dĩa.

Con nhỏ nầy cũng biết nấu ăn quá chớ nhưng chắc ‘tài’ không bằng Má đâu! Con nghĩ vậy nhưng để trong bụng chớ nói ra làm chi cho nó tự ái! Phần hồi xưa, đói, má nấu đã ngon, con ăn cái gì thấy cũng ngon hơn bây giờ nhiều!

Móc ‘mobile phone’, gọi hai thằng con. “Hai đứa chở mấy đứa cháu về thăm ông bà nội chiều cuối năm nhá!” Nửa tiếng sau, hai chiếc xe lần lượt ngừng cái kịt trước cổng; mấy đứa nhỏ chạy ào vào nhà: “Hello! Ông Nội! Hello! Bà Nội! Cha! Thơm quá!”

Thằng con lớn, nịnh, đến bên, chép chép cái mỏ, nheo mắt hỏi: “Má cho tụi con ăn cái gì mà thơm quá tay vậy?” Thằng kế nói: “Bữa nay anh em mình trúng mánh ‘ăn’ rồi!”

Vợ con trả lời tụi nhỏ: “Ờ! Ba tụi con muốn ăn bê thui xào đậu phộng, củ hành với bún tàu đó mà! Người ta gọi là bê thui xào lăn! Vậy mà ổng hõng có biết gọi tên nó là gì!”

Vợ con dọn lên bàn, ê hề, cho mỗi người một dĩa. Con nói: “Dọn cho anh thêm hai dĩa nữa để anh mời Ba Má về ăn!” Sau đó với hai đứa con trai, hai đứa con dâu và bốn đứa cháu: “Thôi! Mấy đứa ăn đi!”

Rồi con khóc! Đứa cháu gái nhìn con trân trân, ngạc nhiên hỏi: “What’s wrong? Ông Nội?”
Giựt mình, con trả lời: “Ờ! Khói bay vô mắt Nội đó mà!”

Nhưng ở đây xài bếp ga mà! Làm gì có khói! Phải rồi khói bếp của quê nhà!

Quê người, gia đình đông đủ chiều cuối năm, thức ăn ê hề, dư dả đến mức thừa mứa trên bàn; mà Ba Má đã mất hết còn đâu!

đoàn xuân thu.
melbourne.

Muốn gởi bài này cho bạn bè,
xin bấm mouse chọn
Twitter, email, Facebook hay Google+ 
ở lề bên trái.



Sunday, December 29, 2013

Món quà Giáng Sinh từ đáy mộ



Bảo Tâm ::























Des Moines  là thủ phủ của tiểu bang Iowa, Hoa Kỳ. Mỗi dịp cuối năm đài phát thanh địa phương có chương trình mang tên “Điều Ước Giáng Sinh” . Chương trình này nhận các điều ước của thính giả và xin các nhà bảo trợ thực hiện phần nào các điều ước này.


Giáng Sinh năm nay đài nhận được một lá thư với các điều ước Giáng Sinh của một thiếu phụ đã qua đời cách đây 2 năm.
“Xin chào, tôi tên Brenda Schmitz và khi bạn nhận được lá thư này thì tôi đã thua trong cuộc chiến chống lại bệnh ung thư buồng trứng.”

Với những lời này Brenda, người đã qua đời vì bệnh ung thư cách đây 2 năm, đã trao cho chồng cô, các con của cô và cho một người phụ nữ đặc biệt khác một món quà Giáng Sinh tuyệt đẹp . Món quà này làm cho nhiều người xúc động.

Brenda Schmitz,
người gởi quà Giáng Sinh từ đáy mồ
(Hình in lại từ News.com.au)

Theo báo Des Moines Register, từ khá lâu Brenda đã cảm mến chương trình Điều Ước Giáng Sinh hàng năm của đài phát thanh Des Moines có tên là KSTZ Start 102.5.

Cách đây chừng hai tuần , ông giám đốc đài phát thanh Scott Allen nhận được một lá thư. Ông Scott Allen nói “Chúng tôi thực hiện chương trình Điều Ước Giáng Sinh hơn 20 năm. Chúng tôi chưa bao giờ nhận được lời ước nào như thế này. Chưa bao giờ.”

Lá thư do Brenda viết cách đây 2 năm, tức là một tháng trước khi cô qua đời vì bệnh ung thư buồng trứng. Cô để lại người chồng tên là David và 4 con thơ.

Thư này do một người bạn không nêu tên của Brenda gởi đi. Người bạn này cho biết :

Brenda đã trao lá thư cho mình và dặn chỉ gửi đi khi David đã tìm thấy tình yêu mới.
Đài phát thanh mời David đến đài rồi đọc cho ông lá thư đầy kinh ngạc do người vợ Brenda viết.

Thư viết:

“Em viết lá thư này và nhờ một người bạn thân gửi cho anh. Em đã dặn cô ta chỉ gửi đi khi thích hợp.
Em bảo cô như thế này : khi ông chồng David yêu quý của tôi quyết định bước thêm bước nữa và một lần nữa tìm thấy ai đó để chia sẻ cuộc sống thì bạn gửi lá thư này đến đài phát thanh.
Khi tôi nghĩ đến những ngày tháng cuối cùng của tôi trên trái đất, tôi đã nói với David các điều ước của tôi sau khi tôi qua đời. Tôi ước anh sẽ can đảm vượt qua với thái độ mà tôi biết anh luôn có.
Anh là một người chồng và người cha vĩ đại biết bao! Tôi biết tất cả những điều xảy ra là cực khó cho anh. Anh là người ra những quyết định tốt nhất cho gia đình chúng tôi. Tôi tin rằng rốt cục anh sẽ tìm thấy một người đàn bà đáng yêu và biết chăm sóc các con của chúng tôi. Cô ấy quả là người đáng nể (tôi ước gì tôi có thể gặp cô) để đảm nhiệm công việc nuôi nấng một gia đình lớn với tình yêu bao la và với trái tim vĩ đại.
Chúng tôi có 4 cậu con trai: Carter, Josh, Justin và cục cưng bé bỏng Max. Max là đứa nhỏ nhất, chỉ mới hai tuổi.
Ngay sau sinh nhật một tuổi của Max, bác sỹ đã chẩn đoán tôi bị bệnh. Lẽ ra không đứa trẻ nào nhỏ như Max mà phải mất mẹ. Nước mắt tôi tuôn rơi khi nghĩ về thảm cảnh này . Thượng đế ơi! Tôi sẽ không được chứng kiến Max và các anh của Max lớn lên thànhnhân. Tôi chỉ còn trông cậy vào David ráng sức giúp cho cậu ấy đừng quên tôi). Max là một cậu bé sáng sủa, thông minh và đẹp trai biết bao.

Lý do tôi viết lá thư này là tôi có một điều ước cho David , các con trai của tôi và người đàn bà cùng gia đình cô ấy (nếu cô ấy cũng có con riêng). Tôi muốn họ biết rằng tôi yêu họ rất nhiều và hy vọng họ luôn luôn cảm thấy bình an trong thế giới đau khổ này.
Tôi hy vọng các bạn giúp tôi một việc nhỏ để mãi mãi thay đổi cuộc sống của họ và cho họ biết rằng tôi luôn luôn ở bên họ.”

Khi đọc lá thư này , những người trong đài rơi lệ và ông David cũng nước mắt như mưa . Ông chồng xúc động vô cùng nhưng chính ông lại không ngạc nhiên.
Ông bảo: Cô đã để nhiều dấu hiệu cho thấy cô vẫn bên chúng tôi từ khi cô mất, như một cầu vồng lớn xuất hiện vào buổi sáng cô qua đời, mặc dầu trời đã không mưa sau nhiều tuần. Được biết bài ca Brenda thích nhất và cô thường hát với cục cưng Max là "Over the Rainbow".

David Schmitz lắng nghe khi đài phát thanh đọc lá thư của vợ
(Hình do News.com.au in lại)

Điều ước đầu tiên của Brenda là xin cho người yêu mới của chồng cô -- Jane -- một ngày hay một cuối tuần xả láng bên người chồng mới của mình .
“Cô ấy xứng đáng nhận nó,” Brenda viết: “Là mẹ kế của những cậu trai và đặc biệt là người trao cho cục cưng Max một tình mẫu tử mà chỉ cô có thể trao. Điều ước này giúp cô mỉm cười và nói lên lòng biết ơn chân tình của tôi đối với các cố gắng của cô."

Brenda viết thêm: “Cám ơn cô. Tôi yêu cô, cho dù cô là ai đi nữa.”

Jane có hai đứa con riêng và cũng nhận một lá thư khác do Brenda gửi riêng . Thư này do đài phát thanh chuyển.

Điều ước kế tiếp của Brenda dành cho cho gia đình mới của chồng:
“Cho cả nhà: một chuyến du lịch tuyệt vời,” cô viết. “Tới nơi nào đó tất cả mọi người có thể cùng nhau vui hưởng; và tới nơi nào đó mọi người cùng sống trong một nhà; và nơi này sẽ tạo thành kỷ niệm mãi mãi cho tất cả mọi người.”

Điều ước cuối cùng của cô đặc biệt dành cho các y tá và bác sĩ làm việc trong khu ung thư ở Mercy Medical Centre:
“Một đêm vui nhộn đầy đồ ăn, thức uống và chơi đùa vui vẻ xứng đáng với tất cả những việc họ đã làm hàng ngày đối với những bệnh nhân ung thư được họ chăm sóc.”

David và người yêu mới Jane (Hình do News.com.au in lại)

Với sự giúp đỡ của các nhà bảo trợ, đài phát thanh đã thực hiện cả ba điều ước của người quá cố Brendan. Đài này đã trang trải tất các phí tổn cho gia đình mới gồm có tám người bay qua Disney World.

“Không mắt người nào trong phòng không đẫm lệ khi chúng tôi đọc lá thư này” Allen đã nói như thế với báo Des Moines Register. “Lá thư thật sự thôi thúc chúng tôi làm điều gì đó cho cô ấy.”

Bảo Tâm ::
(dịch)

Lang thang trên mạng:
Muốn gởi bài này cho bạn bè,
xin bấm mouse chọn
Twitter, email, Facebook hay Google+ 
ở lề bên trái.

Friday, November 1, 2013

Đưa Mẹ! Nhớ La Quốc Tiến!

Đêm quê người, tháo ách, nghỉ cày, rót đầy ly rượu, uống một mình, lang thang trên mạng cùng La Quốc Tiến “Đưa mẹ”... tới lò thiêu.
                                                                                                                                          đoàn xuân thu.

Đ êm quê người, tháo ách, nghỉ cày, rót đầy ly rượu, uống một mình, lang thang trên mạng cùng La Quốc Tiến “Đưa mẹ”... tới lò thiêu. Đọc thơ Tiến tôi nhớ như in lời thầy tụng trong đám tang má tôi

“Khi nào mẹ mẹ con con.
Hôm qua còn đó bữa nay mất rồi”.
“Bước qua chiếc cầu tre lắt lẻo,
con mới hay tin mẹ đã qua đời.”
Cái cảm xúc khi nghe tin mẹ mất là choáng váng, như có ai nỡ đang tâm đánh một cái chí tử vào đầu. Ngừng suy nghĩ. Não không còn làm việc được nữa. Tê liệt, hoàn toàn tê liệt. Thiệt vậy không? Rán không tin. Không! Dẫu là là sự thật.

Lau lệ mình ên!

“Em còn có mẹ già bên đó!”
tiếng thơ buồn như tiếng thở than!
anh đọc thấy: “...hai hàng lụy nhỏ...
... có mẹ già biết bỏ cho ai?!”*

“Anh cũng có mẹ già bên đó!”
mẹ anh đã nằm dưới mộ sâu.
Cỏ trên mồ chắc xanh thương nhớ;
mẹ chắc nhớ anh, nhớ để rầu!

Hai lăm tháng chạp về tảo mộ;
hẹn lần, hẹn lửa, hẹn năm sau.
Năm nào cũng vậy, tiền không có;
không tiền, không có vé máy bay!

Ngày khánh tận mà anh khánh kiệt;
chỉ biết tàng xe đến phi trường.
“Ai về xứ Việt, quê hương đó
cho ké, dùm tôi, nỗi đoạn trường!”

Nỗi đoạn trường, áng chừng em khóc;
vẫn còn ai đó vỗ về em,
ai đó làm em không khóc nữa,
nỗi buồn nhớ mẹ, chắc rồi quên!

Anh nhớ mẹ, rồi anh cũng khóc;
Melbourne buồn, anh lau lệ mình ên!

đoàn xuân thu.
*ca dao
Trong cái mờ mờ ảo ảo lưng chừng rượu, ngà ngà say, tôi thấy La Quốc Tiến, tôi thấy tôi: đầu một dải khăn sô, áo tang trắng, cẳng không, tay cầm gậy trúc hoang mang. Lò thiêu ánh lửa củi bạch đàn, Melbourne lò ga, bừng lên, trùm thân mẹ. Lửa tàn rồi, một ngày, đốt củi, lò nguội xuống. Melbourne lò đốt bằng ga, nóng hơn, ba ngày mới nguội. Thân mẹ yêu giờ là nhúm tro tàn. Và hàng hàng nước mắt. Cát bụi về cát bụi. Sắc sắc không không. Biết vậy!

Nhưng cỏ chát vô hồn, khi chuyển mùa tử biệt, vàng úa heo may thu, vẫn còn biết đớn đau. Biển giao mùa, thôi sóng, biển đồng chung, biển chết. Thì thử hỏi lòng con sao không đau xót?!
Dẫu luân hồi, dẫu kiếp sau, con vẫn muốn nắm níu hình ảnh mẹ khăn san phất phập phồng thăm con ngày con vào lính, thăm con ngày con đi tù cải tạo...

Mẹ khăn san đó, bây giờ, qua sương sương nước mắt của khói nâu buồn.

“Hai đường ray cỗ xe goòng
Quến người hớp đóa lửa hồng về tro
Hóa thân qua ải cửa lò
Sắc - không cậy nhát củi khô bạch đàn
Con lần gậy trúc hoang mang

Mai lên nhúm MẸ tro tàn kẽ tay...
Cỏ chát còn luống heo may
Lòng con quặn biển xót ngày đồng chung
Luân hồi bon cỗ xe rung
MẸ khăn san phất phập phồng khói nâu.”

(Đưa Mẹ - La Quốc Tiến.)
Năm 85, thất nghiệp, đói quá, tôi trở lại Mỹ Tho sau mười lăm năm đi bụi. Tôi gặp La Quốc Tiến.


Mười giờ sáng ra quán cà phê Mười Thượng, ở góc đường Lý Thường Kiệt và Trần Hưng Đạo, ngang trường xưa là Bán Công Trương Công Định gọi một cái đen, vài điếu Đà Lạt, thuốc đen không cán, ngồi xem ông đi qua, bà đi lại. Nhìn chán, hai thằng chụm đầu vào bàn cờ tướng: một cách giết thời gian, giết đời mình hay nhứt... tới chiều tối rồi lết về nhà.
Mỹ Tho nắng sớm mưa chiều nhưng cũng có khi sớm không nắng mà mưa, chiều cũng mưa luôn, trời buồn... buồn như tiếng ễnh ương kêu. Tôi và Tiến ngồi trước bàn cờ tướng mà ngẫm sự đời. Thú thiệt tôi ước được ra biển tự vận, còn hơn sống mà không ra sống... kiểu này. Nhưng tự vận thì ít nhứt cũng phải có tiền mua thuốc chuột. Muốn vượt biên ít nhứt cũng có vài cây vàng đóng cho chủ tàu. Cơm còn hỏng có mà ăn... mà cứ ngồi đây... mơ ngày mai trời lại sáng. Hết nay rồi lại mai... trời vẫn cứ tối thui.

Tiến đỡ hơn tôi nhiều. Không phải cù bơ cù bất. Có nhà ở Cầu Bắc, mặt tiền, có vợ. Vợ giỏi. Vợ Tiến là cô giáo sau nghỉ dạy, đi bỏ bánh kẹo từ Mỹ Tho lên miệt Cai Lậy. Sáng Tiến chở vợ ra bến xe cổng thị xã bằng chiếc Honda dame cũ mèm. Xong, trở về, ghé quán Ba Thượng chơi với tôi. Ba giờ chiều, chạy u vêề nhà nấu cơm, rồi ra bến xe rước vợ. Hai vợ chồng cơm chung, hủ hỉ. Còn tôi, tôi một mình. Sống thơ hơn Tiến. Và nhậu cũng nhiều hơn. Đời buồn quá hỏng nhậu tôi làm gì bây giờ?

Dù gốc Tàu, Phúc Kiến, ba có tiệm thuốc Bắc ở chợ Đức Huệ, Long An nhưng Tiến lại chơi cờ tướng dở. Tôi thì hỏng cao cờ gì; chẳng qua là ở không, đọc sách cờ, khai cuộc, tàn cuộc, còn trung cuộc thì mạnh ai nấy đi. Tôi chỉ Tiến vài cách khai cuộc. Công hay thủ: công thì pháo đầu mã đội, thủ thì bình phong mã.

Mấy ngày bão rớt, ngồi kiểu nước lụt, chơi cờ tướng dưới tàn cây mận, quán cà phê Mười Thượng, tôi triết lý vụn với Tiến: “Đời tao với mầy như những con chốt thí trong khai cuộc tiên nhân chỉ lộ. Chốt chỉ biết qua sông như tên mầy: Tiến, tiến hoài, cấm quay lui, chết thôi. Còn tướng nằm trong cung có sĩ, có tượng che chở. Thua thì chạy trước như tướng Thiệu, Tướng Kỳ.” Tiến gật gù “Đúng vậy!”

Từ bàn cờ tướng rồi thân nhau, từ ông ông tôi tôi rồi tới mầy mầy tao tao, sau khi biết hai thằng đều cùng khóa 4/72 Thủ Đức, tổng động viên mùa hè đỏ lửa. Lúc đó Tiến đang học dở dang ban Việt Hán Văn Khoa Sài Gòn. Ra trường, Tiến về Thiết Giáp có đóng ở Bàu Cá, Long Thành và quen biết Thu, người em năm cũ. Thêm được đề tài để hai đứa...đía.

Kỷ niệm những ngày lính tráng tràn về. Có khi Tiến bỏ tiền ra mua một xị rượu đế, hai thằng nhậu sương sương với xoài sống, chấm nước mắm đường, nhắc chuyện ngày xưa, kể cả chuyện Tiến bị đày ải hơn hai năm tù cải tạo ở Vườn Đào. Cũng vì tù chưa tới ba năm, nên xui quá, Tiến không đi HO được.

Lúc đó tôi không biết Tiến làm thơ hay như vậy, Tiến tài hoa như vậy. Tiến ít nói, ít khoe. Duy chỉ một lần Tiến nói “Tao vừa đoạt giải thơ của tuần báo Văn Nghệ Hà Nội. Bữa nào tao đưa mầy coi.”
Lời hứa đó mãi mãi là lời hứa.

Tôi đi, cuối trời phiêu bạt phận cu li. Tôi không còn gặp Tiến nữa. Mãi mãi.
Sau này tình cờ lên mạng đọc được thơ Tiến thì Tiến đã mất rồi.

Hồi xưa Tiến ít nhậu, đôi khi cao hứng, chiều rủ tôi lên nhà Tiến uống rượu. Tôi cười, nói “Mầy uống rượu như thằn lằn uống nước cúng. Rủ tao lên nhà, không tốn tiền rượu, chỉ tốn tiền dầu”.

Xa Mỹ Tho rồi, tôi không biết Tiến có nhậu nhiều hôn mà bịnh ung thư gan. Căn bệnh quái ác đó đã mang Tiến đi... đi luôn. Ngày cuối chắc Tiến đau lắm, khi thuốc giảm đau không còn hiệu nghiệm nữa. Thơ Tiến đã đau lắm rồi thì ông Trời ơi sao ông nỡ lòng nào làm nó đau thêm? Năm lăm tuổi chết. Không trẻ, nhưng cũng chưa già.

Sinh thời, Tiến khóc Nguyễn Chi. Nguyễn Chi là ai? Tôi không biết. Có thể là bạn thơ của Tiến bị chết chìm, uổng tử trên dòng sông Bảo Định, dòng sông chảy vòng vo, bọc lấy thị xã Mỹ Tho rồi đổ ra sông Cái.

Riêng tôi, tôi lại nghĩ rằng Nguyễn Chi là ẩn dụ, là miền Nam yêu dấu của tôi đã chết trong chiều cả gió. Tôi chắc là Tiến không có ý như vậy nhưng tôi muốn đọc thơ Tiến theo ý của tôi để thấy thơ Tiến tài tuệ biết chừng nào.

“Có vài chiếc lá rụng nghịch mùa
Như mấy cánh cò ma trên mộ người uổng tử
Sông Bảo Định chiều nay cả gió
Hú ba hồn bảy vía Nguyễn Chi ơi!
Hú khan khan như nhấp rượu không mồi!”

(Hú khan khan - La Quốc Tiến)

Đêm nay, quê người, Melbourne, hai mươi năm xa Mỹ Tho, tháo cày, cởi ách.
Nhấp rượu không mồi, tôi không dám hú khan khan... vì sợ cảnh sát Úc... nhốt, tôi lặng lẽ khóc Tiến. Khóc một thời kiêu bạt của chính phận mình.!

Tạm biệt La quốc Tiến. Nói tạm biệt chứ không là vĩnh biệt vì ai cũng phải “hui nhị tì” hết. Cái khác là sớm hay muộn, trước hay sau. Vậy thôi! Vả lại tôi còn nhiều điều phải hỏi La Quốc Tiến. Thơ La Quốc Tiến, theo tôi nghĩ, là tiếng chim hót trong lồng, nên quá nhiều ẩn dụ, vì làm sao nó dám hó hé khi vẫn còn bị nhốt. Tôi còn phải gặp lại bạn hiền xưa để hỏi cho ra lẽ... mới được.

“Nên Tiến ơi! sắm sẵn bàn cờ, xị rượu đế. Để đó, chờ tao!”

đoàn xuân thu
melbourne.

Muốn gởi bài này cho bạn bè,
xin bấm mouse chọn
Twitter, email, Facebook hay Google+ 
ở lề bên trái.



Tuesday, October 15, 2013

Đôi ta đi giữa trời chung thủy



đoàn xuân thu.

Anh bạn văn của  người viết có lần anh cụng ly tui, tui cụng ly anh, tâm tình về con đường tình duyên trắc trở của anh y ‘hịt’ như vận nước vậy.


Tình già: chụp vào hôm mùng 2 Tết ở ven Hồ Tây, Hà Nội
(Hình www.vnphoto.net)

Ảnh nói:
Ngày canh me vượt biển, tui cũng đã có một mối tình nhỏ vắt trên vai rồi đó chớ! Nồi nào úp vung nấy! Nghèo đụng nghèo cho nó mạt luôn; chớ đâu phải như đại gia nào đó làm giàu do ăn hối lộ, bán bãi vượt biên, hay giỏi giựt dọc, cướp đất, đuổi nhà người ta mới cưới được vợ đẹp, vợ xinh, hoa hậu, người mẫu… chân dài tới nách… mà phận nghèo như tui, làm ăn lương thiện… lại phải chịu cu ky?! Ông Trời có mắt mà?!

Qua Úc, hai năm sau vô quốc tịch rồi, tui tính lãnh người xưa qua. Nhưng mà em hỏng chịu đi vì nghe nói tui đang làm ‘farm’! Dù tui giấu kỹ lắm, tui nói tui đang làm giám đốc hãng may, có tới 4, 5 chục công nhân lận, đông như quân Nguyên mà tui là Hốt Tất Liệt?! Nhưng hỏng biết ‘cha’ nào về bển, thày lay, hỏng ai ‘quánh’ mà khai hết ráo! Thiệt là cái thằng nhiều chuyện, không biết giữ bí mật quân sự nào cho bạn hiền hết ráo!Thôi em biết rồi, đành chịu thiệt, chớ ‘dóc’ nữa làm chi cho nó mất uy tín!
Tui điện về thì em hỏi làm ‘farm’ là làm cái giống gì? Thì như mình làm rẫy vậy mà. “Thôi! Tưởng qua Úc làm ông nghè, ông cống gì đó; để võng anh đi trước võng nàng theo sau; chớ qua Úc làm farm, làm ruộng, làm rẫy thì bên Việt Nam thiếu gì, em qua bển chi cho nó xa, cho nó cực… thôi để em ở lại, lấy mấy thằng Cảnh Sát Giao Thông chuyên đi đón đường, chặn ngõ người ta mà làm luật, tiền vô như nước, phần ở gần nhà, gần tía má cho tròn chữ hiếu! 

Để khỏi có cái vụ: Có con ‘chim’ đa đa, chồng gần không lấy; đòi lấy chồng xa! Lỡ mai cha yếu mẹ già, chén cơm, đôi đũa, bộ kỷ trà ai dâng?"

Thôi! Em ‘khờ’, em chê thì mình chịu, chớ làm farm tiền không đó, đếm mỏi tay, khô nước miếng luôn chứ bộ! Bên ‘ni’ muốn kiếm tiền, thật nhiều tiền mà không phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt chỉ có cách là đi ăn cắp điện của nhà đèn mà trồng ‘cỏ’ thôi em ơi!
Phần em sống trong chế độ xã hội chủ nghĩa đã quen tánh chụp giựt, lậm sâu vào trong máu, nên đành bó tay luôn. Phần tình mà! Ai ép ai cho được, vì ép dầu, ép mỡ ai nỡ ép duyên.
Nói vậy chứ tui cũng buồn quá mạng, em yêu của tui thực tế còn hơn là Mỹ nữa! Dẫu buồn, tui cũng an ủi được một phần, vì hỏng phải mình tui bị em ‘phụ’ đâu nha! Tường Nguyên trong “Gọi đò’; ‘chú em’ cũng đau khổ cũng hỏng thua gì tui đâu:
“Gọi đò ơi! Ai giúp đưa tôi kịp sang đò. Bên kia sông này người ta đang tưng bừng đón dâu. Gọi đò ơi! Cớ sao không có ai đưa đò để con đò buồn hiu quạnh. Bến quê chẳng còn ai nhớ mong mình về!”
“Ngày đi em đưa tôi qua đò chiều. Em hứa bao điều mãi đợi chờ nhau nhưng mà sao em lại quên?”“Em quên câu yêu thương. Bao nhiêu năm xa quê hương nay lại về. Sắt son câu thề mà người xưa bỏ bến theo chồng”.
“Đò ơi, ai đưa tôi qua đò chiều. Cho nhắn đôi điều đến người mình yêu. Tiếng hò ai nghe quạnh hiu. Mai đi xa quê hương mang trong tim yêu thương. Duyên tình đầu thiết tha hôm nào. Mà giờ đây như nước qua cầu. Gọi đò ơi... gọi đò ơi... ơi đò... ơi hỡi đò ơi...!”
Gọi đò gọi gì mà gọi hoài vậy hả ‘chú em’? Em đi lấy chồng rồi thì thôi, kiếm em khác, hơi sức nào mà gọi hoài, gọi hủy, đã mắc công, lại khát nước, khô cổ họng rồi phải tốn tiền nước mía nữa. Tốn biết bao nhiêu cho đủ, cho đã khát!
Người ta không chung thủy thì thôi!

N hưng chung thủy là gì? Theo từ điển Hán Việt có nghĩa là: không đổi, trước sau như nhứt. Chung thủy tiếng Việt hồi xưa, hồi Việt Nam Cộng Hòa của mình có, bây giờ tiến vững chắc lên Xã Hội Chủ Nghĩa rồi nên nó chết ngắc, biến mất tăm! Mà ngay cả bên Úc nầy dù không có ‘lan can’ gì với chủ nghĩa xã hội, chung thủy cũng không có trong từ điển luôn nữa đó.

Chuyện rằng: Maria, một người mẹ đơn thân, chữ là ‘single mum’, đến sở an sinh xã hội, Centrelink, để xin tiền sữa. Nhân viên xã hội hỏi:
“Thưa! Bà có mấy đứa con? Tên chúng là gì?”
Maria ỏn ẻn trả lời:
“Mười đứa cả thảy. Tên chúng là: Tom, Tom, Tom, Tom, Tom, Tom, Tom, Tom và Tom.”
“Mười đứa đều tên Tom hết! Vậy bà có lẫn lộn đứa nầy qua đứa khác không?” 
“Không bao giờ; mà còn tiện cho em nữa đó! He he! Chẳng hạn gọi tụi nó về, vì tới giờ cơm hay giờ đi ngủ; chỉ cần gọi Tom mười lần, là mười đứa đang lang thang chơi đâu đó, mũi dãi lòng thòng đều ‘bang bang’ chạy về nhà hết ráo! Gọn bân!”
“Còn muốn gọi từng đứa thì làm sao?”
“À! Em gọi bằng họ của tía nó!”

Nghĩa là em Úc rặt rằn ri, Maria nầy, có tới mười ông chồng khác nhau, cho em tổng cộng mười đứa con thì cũng có sao đâu?! Em ‘điệu’ hết biết với ‘anh’ Centrelink nầy chắc trong bụng em muốn có thêm đứa thứ mười một, cho đủ số cầu thủ của một đội đá banh?!

Do đó, Việt Nam hay Úc bây giờ, bàn tới chung thủy làm chi cho nó mệt! Hết thương, hết đường chao tương, thì kiếm ‘thằng’ khác, ‘con’ khác… thương cho nó gọn. Chớ ‘tình đau không phải xách dao mà xử nhau!’ như trong nước bây giờ! Hay như Othello ‘bóp cổ’ người ‘thương’ một cách thảm thương trong bi kịch của Shakespeare đâu nhá!

Đ ó là Úc, bây giờ Việt Nam mình, định cư ở xứ kangaroo nầy cũng lâu lâu rồi, gần mực thì đen, gần đèn mà điện cúp, cũng tối hù… cũng chịu ảnh hưởng con kangaroo, nên vài anh, vài em cũng bắt chước nó nhẩy lung tung?! Dẫm nát cái nghĩa vợ chồng một thời đầu ấp, tay gối, đêm đêm táy máy, ngủ ngáy cùng nhau! Nỡ đem cái từ chung thủy ra mà xé cái rẹt trước mặt ông tòa, để đòi chia nhà, chia của ra làm hai như vậy chớ?!
Báo Việt Luận, thứ sáu tuần rồi, ngày 4 tháng 10 năm 2013, trong mục ý kiến bạn đọc, tác giả Phạm Bích Loan, Cabramatta… đã thuật lại một câu chuyện rất lý thú như vầy:
“Về Việt Nam cả nhà đi ăn ở một nhà hàng khá sang trọng… Trực tiếp chỉ huy phục vụ cho phòng ăn nầy là một cô khoảng 25 tuổi mà theo bà vợ thì nó “chả có gì đẹp cả chỉ được cái chân dài, da trắng và vòng 1 khá to thôi”. Em hỏi ông chồng: “Anh có dùng thêm bia không?” “Nó gần như nằm trên người ông ấy để rót bia, mà thằng cha ó đâm nầy không dám chửi nó lại còn ngồi im”.
Rồi sau đó là:“Thằng chả cần về Việt Nam bốc mộ cho ông bà con nào đó” hay “gặp lại người bạn chiến đấu ngày xưa” . Cuối cùng thì ông ly dị bà và em sắp qua Úc. Rồi tác giả khuyên chị em mình đối xử với chồng nên nhỏ nhẹ một chút, giờ mình tuổi lớn “giá nó cũng xuống rồi” . Già mà sống một mình khổ lắm chị em ơi!

Ông anh trong chuyện nầy chịu chơi dữ à nha! Ông có ‘ví’ bự! Em ‘địa’ ông. Em có ‘ví’ bự! Ông địa em! Dù ví em, em khoe, ví ông, ông giấu nhưng địa qua địa lại! Điện âm hút điện dương, nổ cái ầm… làm tan nhà nát cửa! He he!

Người viết đọc câu chuyện nầy xong, tủm tỉm cười một mình. Bỗng nghe tiếng gầm như sư tử hống, hết hồn quay lại nhìn, thấy em ‘yêu’ nghiến răng trèo trẹo hỏi: 
“Chừng nào tới lượt ông?”
“Hỏng dám đâu!” “Không bao giờ em yêu ơi!” 
“Thiệt không? Mấy ông là vua nói dóc! Ai tin!”

Anh nói thiệt: Hồi trước khi đi hỏi cưới em cho anh, Má anh có đi coi thầy bói. Thầy bói phán rằng: “Thằng nam nầy kiếp trước nợ con nữ nầy; phải trả hết nợ đến khi nó ‘ngỏm". Nghĩa là chết, mới xong hết nợ! Hỏng có vụ nửa đường nó bỏ chạy đi kiếm con nữ khác đâu! Vì kiếp nầy chưa trả hết mà nó bỏ chạy thì kiếp sau phải đi đầu thai lên mà trả tiếp.

Thôi! Anh cũng rán trả một lần cho xong. Một kiếp là tảng kinh hồn vía rồi; nói đến kiếp sau ta tìm thấy nhau; sao nghe mà ớn quá xá?”

Do đó em yêu ơi; đừng lo chi cho hao mòn thân ngà vóc ngọc. Đôi ta đi dưới trời chung thủy tới già. Già rồi hỏng còn đi nổi nữa, anh cũng thề hứa bán mạng là: anh sẽ chống gậy đi cùng em tới cuối đường hoa mộng luôn! Chịu hông hả?

đoàn xuân thu.
melbourne

Muốn gởi bài này cho bạn bè, 
xin bấm mouse chọn 
Twitter, email, Facebook hay Google+ 
ở lề bên trái.



Saturday, September 28, 2013

“Đã trả xong hết rồi!”


Ai cũng có người cha.
Với người cha ai cũng có nhiều kỷ niệm.
Kỷ niệm này chôn sâu trong lòng cho đến khi... mất cha.
Truyện này là một trong nhiều kỷ niệm được khơi dậy trong lòng người con.
Người con trong truyện nhận ra tấm lòng của người cha khi chịu tang.
Lúc đó quá trễ.
Như ai ai, người dịch truyện này cũng có một người cha, ông đã viết về cha mình trong bài “Ba tôi! Người đánh máy mướn!”
Sắp đến ngày giỗ Ba, anh Đoàn Xuân Thu phỏng dịch bài này như nén hương dâng lên bàn thờ ba.
Og3t

đoàn xuân thu
(phỏng dịch)


Một thanh niên chuẩn bị tốt nghiệp đại học. Nhiều tháng trời anh thèm muốn một chiếc xe hơi kiểu thể thao tuyệt đẹp, chưng bày trong phòng triển lãm của một hãng bán xe, và anh biết rằng thân phụ mình hoàn toàn có khả năng về tài chánh để mua chiếc xe đó cho anh, anh bày tỏ ước muốn của mình với người cha rằng anh rất muốn có chiếc xe trong mơ ước đó.

Ngày tốt nghiệp đại học đến, chàng thanh niên chờ đợi thân phụ mình sẽ mua chiếc xe đó cho mình. Cuối cùng vào sáng hôm lễ tốt nghiệp, thân phụ anh đã gọi anh vào phòng học. Thân phụ anh nói: Ba đã hãnh diện biết bao khi có một người con giỏi dắn, ngoan ngoãn như con và nói: Ba thương yêu con lắm! Rồi ông tặng cho con trai mình một chiếc hộp đựng quà được gói cẩn thận, bọc bằng giấy màu tuyệt đẹp.

Tò mò không biết đó là cái gì nhưng có vẻ không được hài lòng cho lắm, người con mở chiếc hộp ra và chỉ tìm thấy trong đó một cuốn thánh kinh có bìa bọc bằng da. Tức giận, anh lớn giọng với cha mình: “Ba có rất nhiều tiền mà chỉ mua tặng cho con duy một cuốn thánh kinh nầy ư?” Rồi giận dữ bỏ đi mà không thèm mang theo cả cuốn thánh kinh.

Nhiều năm trôi qua, chàng thanh niên tốt nghiệp đại học ngày ấy bây giờ là một thương gia rất thành đạt trong thương trường. Anh có một căn nhà tuyệt đẹp, một gia đình hạnh phúc, chợt nghĩ đến người cha bây giờ đã trở nên già yếu bèn quyết định sẽ đi thăm cha mà kể từ ngày tốt nghiệp đại học năm đó tới nay anh chưa hề gặp mặt.

Trước khi có thể thu xếp công việc, dành thời giờ cho cuộc thăm viếng nầy thì anh nhận được một điện tín, báo hung tin rằng thân phụ anh vừa mới từ giã cõi đời. Khi đến nhà thân phụ của mình, lòng anh trĩu nặng nỗi buồn đau và hối hận.

Anh tìm kiếm, sắp xếp những giấy tờ quan trọng của cha mình để lại và tìm thấy cuốn thánh kinh ngày cũ mà không ai đụng đến nên trông vẫn còn y như mới. Kỷ niệm tràn về, lòng rưng rưng lệ, anh lật từng trang sách một.

Khi anh đang đọc những dòng chữ trong cuốn thánh kinh; chợt một cái chìa khóa xe hơi rơi ra từ trong một phong bì đính phía sau trang chót của cuốn thánh kinh. Trên phong bì đó là tên nhân viên của hãng bán xe, giống tên người bán xe, có chiếc xe thể thao mà anh đã từng ước muốn. Kèm theo chìa khóa xe là một mảnh plastic có ghi ngày tốt nghiệp của anh và hàng chữ: “Đã trả xong hết rồi!”

đoàn xuân thu.
melbourne.
phỏng dịch từ Paid In Full.
Tác giả: By: Author Unknown
Muốn gởi bài này cho bạn bè,
xin bấm mouse chọn
Twitter, email, Facebook hay Google+ 
ở lề bên trái.



Monday, July 8, 2013

Phải Chi Còn Má!


đoàn xuân thu.

Bà ‘chằn’   của người viết hồi xửa, hồi xưa là con gái Cần Thơ. Con gái Cần Thơ thì không cắc cớ, nhưng em là trường hợp ‘ngoại lệ’!

Yêu là phải lựa ‘thằng’ thông minh, học giỏi, con nhà giàu rồi mới chịu ‘ưng’ cho nó ‘phẻ’! Làm như là Hoa Hậu Venezuela không bằng?


Mà muốn biết thông minh hay không thì ‘em’ thường ra câu đố cho ‘chàng’ giải đáp; để coi cái IQ (xin đọc theo kiểu Việt Nam mình) của ‘chàng’ ra sao? Giống như bây giờ mấy thằng Úc, trước khi mướn người làm, thường ‘interview’. Không qua được ‘interview’ là mình tiêu. Vậy thôi!

“Tiếng anh ăn học làu thông! Lại đây em hỏi khăn lông mấy đường?”

Câu trả lời dễ ợt:

“Em về đếm sạch cỏ vườn!
Ra đây anh nói: mấy đường khăn lông!”
Hỏi vậy mà cũng bày đặt hỏi!


N hưng có lần em chơi khó, hỏi: “Anh là dân Mỹ Tho. Anh nói: Má anh có quầy bán cơm tấm để nuôi anh ăn học trên đường Huyện Toại. Mà anh có biết Huyện Toại là ông nào vậy hông?”

Mình bí! Nhém chút nữa là em cho mình rớt rồi! Nhưng có lẽ nhờ ‘đẹp trai’ và nói hơi ‘dai’ nên em cho đậu vớt.

Dù em cho đậu vớt nhưng không trả lời được cho em: “Huyện Toại là ông nào?” Người viết rất tức tối! Rất: ‘Hận đời đen bạc! Hận kẻ bạc tình! Hận cả gia đình! Hận luôn hàng xóm!’ Nghĩa là hận hết ráo! Và trong trường hợp nầy người viết còn hận luôn mấy ông soạn sách giáo khoa nữa đó!

Như quý độc giả thân mến từng biết: Trước 1975, thời trung học, từ lớp đệ thất tới lớp đệ nhứt, năm nào cũng có môn Sử Địa, 2 giờ một tuần. Một giờ Sử, một giờ Địa. Giờ học đã ít, mà chương trình học thì ‘thiên la địa võng’. Học Sử Việt từ thưở ‘Được voi đòi Hai Bà Trưng’ cho tới thời ‘Bảo Đại’! Học từ ‘Tây mũi lõ’ cho tới ‘Tàu khựa, Tàu phù’. Học thiệt nhiều nhưng biết chẳng bao nhiêu vì ‘lớt lớt bên ngoài như xài thuốc đỏ’. Nhưng có cái ngộ, kỳ kỳ là địa phương mình, nơi mình ăn dầm nằm dề thì bù trất? Học trò hỏng biết xa hơn cái lỗ mũi. Sử anh hùng dân tộc ngay chính quê hương bản thổ của mình thì mấy ổng không cho vô chương trình. Không học! Sao biết? Nên thấy tên ông Huyện Toại mình cứ tưởng người dưng?

Sau nầy VC vô, còn tệ hại hơn! Không có Huyện Toại gì ráo? Chỉ có ‘Ông Lê Nin ở nước Nga! Mà sao ông đứng vườn hoa nước nầy? Ông ngửa mặt, Ông chỉ tay! Làm như nước Việt này là của ông?’. Đó là ngoài Hà Nội. Còn trong Sài Gòn thì: Huỳnh văn Bánh, Đoàn văn Bơ, Mạc thị Bưởi. Bộ đói lắm sao mà đặt tên đường toàn là bánh trái không vậy hả mấy thằng ‘ông nội con nít’? Mấy cái tên đường nầy ‘Lê văn Tám’ quá nên khỏi có ý kiến gì cho nó mệt!

Phàm muốn dạy dân yêu nước, thương nòi đâu phải ngang xương nhẩy cái rét vô ‘Yêu tổ quốc, yêu đồng bào…?’ Mà phải bắt nguồn từ gia đình. Gia đình là rường cột quốc gia mà! Phải thương yêu cha mẹ, anh em trước. Lớn lên một chút thì bà con cô bác… rồi láng giềng thôn ấp. Lúc ‘dậy thì’, râu măng ‘tí chút’, bể tiếng khàn khàn như con vịt đực… mới ngó qua cô em láng giềng, người em cách dậu mồng tơi xanh rờn chớ! Thương như vậy mới tuần tự nhi tiến và hợp lẽ giềng mối với Đất và Trời!

Vì là phe ta, nên người viết mới bỏ công ‘buồn’ mấy ông soạn chương trình giáo khoa Sử Địa hồi trước 75 lắm nha! ‘Mấy thầy soạn chung chung, ta bà thế giới quá! Còn học trò như ‘em’ lại không biết ất giáp gì về địa phương, về cuống rún chưa lìa, về quê hương bản thổ hết trơn hết trọi á!’

Gần 40 năm sau, xa quê, xa cái xã Điều Hòa, cái Thị Xã Mỹ Tho ngày mất nước, quê người, Melbourne, đêm nay viết bài nầy thì con đường Huyện Toại mới trở lại mà hành hạ đứa học trò từ lúc tóc còn xanh mơn mởn ngày xưa cho đến đầu chớm bạc bây giờ!

Ổng là ai? Ông là ai? Là ai? Là ai?

Bèn làm cái nghiên cứu, lục lọi thì thấy rằng:


Ông Huyện Toại thực ra là Huyện Thoại. Tây, nó viết bỏ chữ h nên thành Toại. Tên họ ổng là: Đỗ Trình Thoại, người thôn Yên Luông, huyện Kiến Hòa, trấn Định Tường (thời VC thì thuộc huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang).
Năm Quý Mão (1843), đậu Cử nhân tại Trường Hương Gia Định, được bổ làm Tri huyện Tân Hòa (bao gồm khu vực Gò Công thuộc tỉnh Tiền Giang ngày nay) nên được mọi người quen gọi là Huyện Thoại.

Tây đánh Lục Tỉnh Nam Kỳ, ông chống lại. Vào tờ mờ sáng ngày 22 tháng 6 năm 1861 (Tân Dậu), ông cùng 600 nghĩa quân đánh đồn Gò Công do một sĩ quan hải quân Pháp là Paulin Vial và 27 quân sĩ trú đóng.

Huyện Toại dùng gươm giết được một tên lính Hải Quân Bodiez và đâm trọng thương trung úy Paulin Vial, Trưởng đồn kiêm Giám đốc bản xứ sự vụ Gò Công. Nhưng sau đó, bị trúng đạn, ông hy sinh tại trận tiền cùng với 14 chiến sĩ khác.


Để trả lời một câu hỏi về chính quê nhà mình… mà cần tới 40 năm mới làm được! Thiệt nghĩ mắc cỡ quá! Nhưng trễ còn hơn không!

Sau khi dựng em yêu đang ‘ngáy như sấm’ dậy, để nghe ‘trả lời một câu hỏi’ 40 năm về trước. Người viết còn nhắc cho ‘em yêu’ về quan niệm hồi xưa đi chọn vợ của mình như thế này: chỉ cần có hai điều kiện thôi. Một chánh, một phụ. Chánh là phải đẹp! He he! (con vợ nghe, nó khoái quá trời?) Phụ là phải biết nấu cơm tấm để về nhà tiếp Má mình đi bán… để nuôi mình!

Nhớ ngày xưa em nói em yêu có anh thôi! Không ai ngoài anh nữa? Và em là con gái Cần Thơ chỉ biết làm bánh cống. Còn cơm tấm, chịu thua! Thua thì bỏ. Em nghe hăm; sợ không được làm ‘Con Gấu Mẹ Vĩ Đại’, nên năn nỉ ỉ ôi: “Anh dạy em đi!”

Người viết từng chạy bàn cho quầy cơm tấm của Má mòn gần chục đôi dép nên rành sáu câu vọng cổ, bèn soạn cái ‘giáo án’ nầy để
‘Dạy con dạy thuở còn thơ.
Dạy vợ dạy thuở bơ vơ mới về!’


Trước hết là bày cách cho em lấy lòng Má của mình; sau là cho em biết thế nào là lễ độ! Chớ hỏng phải bất cứ cái gì cũng ong óng lên: “Tui biết hết” đâu nha!
Người viết dạy em rằng: Dĩa cơm bì sườn ngon phải nhiều màu sắc đẹp mắt như tranh Picasso. Trắng của cơm, vàng ươm của sườn nướng, đỏ của cà rốt, xanh của dưa leo. Sườn nướng phải mềm, thơm. Bì thịt, thính và bông da ăn phải ngứa răng. Đồ chua phải dòn, nhai rau ráu. Nếu muốn, chơi thêm một trứng gà ốp la nữa cho nó bổ… ‘thận’?
Sườn nướng phải là thịt ‘cốt lết’ ngon, tẩm mật ong, muối, nước mắm, dầu hào, dầu mè, tỏi, hành khô, hạt tiêu cho ngấm rồi đem nướng vỉ than. Chu choa, mỡ cháy xèo xèo, khói thơm bay xa… ba cây số!

Hàng quán bên đường tại Mỹ Tho
vào năm 1968
(hình http://my.opera.com/Gaiqueart/)


Còn bì thịt là thịt nạc mông hoặc thịt nạc vai, ướp muối, hạt tiêu, tỏi, đường, nước mắm. Xong đem ram cho vàng rồi xắt sợi.

Phần nước mắm: nước mắm ngon Phú Quốc, hiệu ba con cá cơm, đựng trong tĩn. Nấu sôi, vớt bọt, nêm đường, giấm, tỏi với ớt bầm pha thêm vài trái dừa xiêm.

Còn đồ chua là cà rốt, đường, giấm, muối, có thể thêm củ cải trắng với dưa leo và cà chua ăn kèm cho đỡ ngán.

Còn phi mỡ hành: hành lá rửa sạch, thái nhỏ, trộn vào tô hành một ít dầu ăn, phi trên bếp khoảng 30 giây để hành vừa chín tới.

Nấu cơm tấm, sau khi đã nhặt hết mấy hạt sạn nho nhỏ còn lẫn trong tấm. Làm ẩu tả, còn sót sạn, cắn nghe cái ‘bốp’ là gãy răng. Không nấu kiểu thường, trừ trường hợp muốn ăn cơm cháy với tép mỡ rắc đường, mà phải đổ tấm, sau khi vo sạch, vào từng cái xửng nhỏ, xăm xắp nước, bỏ vào nồi lớn, hấp. Thêm vài cái lá dứa cho thơm ‘râu’!

Sau khi hướng dẫn em yêu thật tỉ mỉ phần lý thuyết, tính dắt ‘Con Gấu Mẹ Vĩ Đại’ về thưa với Má là: con đi học ở Cần Thơ kiếm được một đứa về đỡ tay đỡ chân cho Má nè! Nhưng chưa lần nào em được ‘hân hạnh’(?) làm dâu thì Má bị tai biến mạch máu não và ra đi khi tuổi mới 40. Má ơi!

Tháng 6, Melbourne, trời cuối thu, sắp sang đông. Gió nhiều, mưa cũng lắm. Tới ngày giỗ má rồi. Năm nay như mọi năm, vợ con sẽ làm cơm tấm sườn bì cúng má. Chính tay con sẽ làm nước mắm với ‘bí quyết gia truyền’ nầy cho hai thằng con, hai đứa con dâu và 4 đứa cháu nội ăn, để tụi nó ngả nón cúi đầu mà khâm phục Tía nó cũng biết làm… chớ không phải chỉ chuyên ‘dóc tổ’!
Con đường Huyện Toại, quầy cơm tấm của má ngày xưa đi suốt theo con cả thời niên thiếu cho mãi đến bây giờ!
Thu Melbourne, lá vàng đã đầy trên lối! Dĩa cơm tấm ngày xưa, con đường Huyện Toại và bài hồi ức nầy làm con nhớ Má biết bao nhiêu!
Vợ con, ‘Con Gấu Mẹ Vĩ Đại’, nói rằng: nó cám ơn Má nhiều biết bao nhiêu vì Má đã đẻ ra con và cho nó một người chồng rất dễ thương… và dễ dạy!
‘Con Gấu Mẹ Vĩ Đại’ nói một câu rất ăn tiền là: “Phải chi Má còn sống! Giờ dẫu Má có già, có quên trước quên sau hoặc tánh tình khó khăn gì đi chăng nữa, em nhứt định làm bổn phận dâu con… mà dâu ‘ngọt’ chớ hỏng có chua; hết lòng phụng dưỡng Má của anh như Má của em! Nhứt định không bao giờ ‘xúi bẩy’ anh đưa Má vô Nhà Dưỡng Lão (Nursing Home) đâu nha?!”

Mẹ quê
(Hình tintuchangngayonline.com)

đoàn xuân thu.
melbourne.




Monday, June 10, 2013

Bốn yếu tố để tiên đoán cuộc ly dị


Chắc chắn nhiều bạn đọc nhung nhớ
cây viết Ben Trần từng xông xáo trên blog Việt Luận.
Hôm nay, cây viết này trở lại với chúng ta sau vài tuần lễ “paternity leave”  để chăm sóc đứa con vừa chào đời. 
Mừng cho anh Ben: cháu ăn ngoan và rất chóng lớn.
Hiện nay cháu của anh Ben Trần tung tăng tại địa chỉ danvietucchau.blogspot.com.
Mời bà con ghé thăm cho vui nhà vui cửa.
Og3t

:: Ben Trần

Bạn có thể tiên đoán một cặp vợ chồng sẽ ly dị hay không? Có thể lắm chứ. Đó là câu trả lời của John Gottman, nhà tâm lý học lừng danh.
Trong mục lifestyle có bài khảo cứu rất thú vị của chuyên gia tâm lý John Gottman được đăng trong thetelegraph.com.au. Ông Gottman và nhóm của ông chọn ra 80 cặp vợ chồng để nghiên cứu. Cho các cặp vợ chồng ngồi đối đáp nhau trong 15 phút để thu thập những ý kiến bất đồng mà họ đã có. Sau đó nhóm của ông Gottman tiếp tục “thăm hỏi” 80 cặp vợ chồng nầy suốt 14 năm sau. Ông đã đưa ra kết luận có 4 yếu tố mà theo đó có thể dẫn đến ly dị, và ông cho là chính xác đến 93%.
1/ Khinh thường: sự khinh thường giữa đôi bên nó có hậu quả lớn hơn sự giận dữ.
2/ Phê bình: chỉ trích lẫn nhau mà không hề có ý phê bình xây dựng.
3/ Đổ thừa: Tại anh, không phải tại tôi… Không ai chịu trách nhiệm cho những lầm lỗi mình gây ra.
4/ Bỏ mặc: Những cặp hay bỏ ngang các cuộc bàn luận để có thể hàn gắn; mặc kệ ta chẳng màng… thường kết quả dẫn đến ly dị một ngày không xa.
Trên đây là những kết luận rút ra từ những sự quan sát, thăm dò của một tâm lý gia cho xã hội Tây phương. Ông ta có thể cho là chính xác đến 93%, tuy nhiên theo tôi có thể không hẳn đúng đối với người Á đông. Bởi những cặp vợ chồng Á đông có sự nhẫn nhịn rất cao và cũng có những cặp có khả năng hóa giải những mâu thuẫn rất hay.

Tùy theo mỗi nền văn hóa nó có thể giúp vợ hoặc chồng nhịn nhục mà sống chung và dần dần họ sẽ trở nên gắn bó nhau hơn… Chẳng hạn ở Việt Nam người vợ chịu phục tùng người chồng nhiều hơn để giữ gìn hòa khí trong gia đình. Ở Hàn quốc, nếu người vợ giỏi làm việc bên ngoài ông chồng chịu lép vế làm việc nhà và phục tùng bà vợ…

Có câu chuyện trên facebook và được Kid’s Land dịch lại:
Một cặp vợ chồng cơm không lành canh không ngọt và chuẩn bị đi đến ly hôn. Người vợ không đồng ý những điều kiện của ông chồng, bà xé đơn ly dỵ ngay phút đầu tiên. Ngày hôm sau bà vợ chỉ đưa ra một điều kiện duy nhất và xin ông chồng tạm chấp nhận. Trong 30 ngày,hai vợ chồng hãy cố gắng sống một cuộc sống tình tứ lãng mạn như những ngày mới cưới, để đứa con trai không bị phân tâm mà lo học thi. Ông chồng chấp nhận, điều kiện rất đơn giản: tức là bế vợ vô phòng ngủ vào ban đêm và bế vợ ra vào buổi sáng. Hai người cứ làm như thế và sau 30 ngày họ suy nghĩ lại, họ thay đổi tính tình, thay đổi về cảm nhận của cuộc đời và cuộc hôn nhân của hai người được hàn gắn trở lại.

Nhà văn Mignon Mc Laughlin có câu nói rất hay: “Để có hạnh phúc trong hôn nhân ta cần phải bị tiếng sét ái tình rất nhiều lần với cùng một người”. Rõ ràng bà vợ trên đã biết tạo cơ hội cho hai người biết “falling love” trở lại với cùng một người.

Đây là vấn đề lớn, không thể gói gọn trong sáu bảy trăm chữ; tôi bèn đưa bài ngắn nầy lên blog danvietucchau và mời các bạn góp ý. Có nhiều bạn góp ý rất hay, chẳng hạn bạn Kim nguyễn góp ý: “… mỗi người sinh ra đều có tính tình khác nhau, mỗi gia đình đều có hoàn cảnh khác nhau, mọi sự đổ vỡ đều có nguyên nhân khác nhau. Qua những câu chuyện ly dị hằng ngày, chúng ta nên rút ra một kinh nghiệm quí báu đó là bình tĩnh, thật sự bình tĩnh tìm yên lặng suy nghĩ ít nhất là một tháng để có quyết định đúng đắn nhất không làm thiệt hại đến con cái…”

Đúng là mỗi cặp đều có những kinh nghiệm hàn gắn sứt mẻ khác nhau để cuộc hôn nhân không đi đến đổ vỡ. Đôi khi vì một người thứ ba mà hôn nhân đổ vỡ (ví dụ chồng hay vợ ngoại tình). Mà đôi khi cũng nhờ người thứ ba mà hôn nhân được cứu vớt (hoặc ta nên nhờ các vị cố vấn hôn nhân).

Đôi khi lúc còn trẻ, còn nóng tính, nhiều tự ái, ích kỷ… không nghĩ đến hậu quả là dẫn đến quyết định sai lầm… Bạn hãy xem gia đình của Tiger Woods thì mới thấy thảm hại. Tiger Woods có làm lỗi thật đó, nhưng chàng ta không phải là tệ hại. Có lẽ phần lớn là do các ông nhà báo, Ti vi chõ mũi vô nhiều quá. Bà vợ cũng tự ái, ta đây cũng từng là người mẫu “nghiêng nước nghiêng thành” sao lại chấp nhận anh chàng háo sắc “già không bỏ nhỏ không tha” đến con nhỏ con bà hàng xóm cũng vẫn dám tò tí như thường… Thế là đường ai nấy đi. Bà vợ sau khi ly dị vẫn ở trong căn nhà cũ mà cứ nhớ về “những ngày xưa thân ái…” bà chịu không nổi cho đập phá nhà cũ xây nhà khác. Phần Tiger Woods, sau khi ly dị thì cuộc đời chàng ta như thể địa ngục… tiền rừng bạc bể để làm gì?? Chàng tâm sự với người bạn thân rằng: “ Tôi yêu Elin. Không có em, tôi sẽ khổ suốt đời…” “ I love Elin. Without her, I’ll be miserable for the rest of my life”.



Bây giờ nghe đâu hai người đã thỏa thuận điều gì gì đó để tái hợp trở lại. Nói theo ông ĐoànXuânThu thì vợ Tiger Woods trở về để chàng Tiger tiếp tục trả nợ… vì anh ta cứ mãi ca bài “Anh còn nợ em”… Mà bà vợ cũng còn nợ Tiger Woods vậy! Bả mới chịu trở về. Bởi vậy hôn nhân thật là khó đoán, khó giải thích. Thôi người viết để các bạn tiếp tục trong phần “LỜI BÀN”.

:: Ben Trần
10/6/2013

Monday, May 20, 2013

Ba Tôi! Người Đánh Máy Mướn!


Dxt. :: 
Năm 1961 thằng em thứ sáu, vừa lên 5 của tôi, bị viêm màng não rồi chết. Thân phụ tôi đang làm Trưởng Ty Bưu Điện Rạch Giá buồn bã quá, xin đổi về Sài Gòn làm ở Bưu Điện Trung Tâm gần Vương Cung Thánh Đường dắt cả gia đình chạy trốn một kỷ niệm buồn đau!

Máy đánh chữ Remington
được dân đánh máy stencil tại Sài-gon rất ưa chuộng (hình talkingturkeys.com)


Nhà thì chính phủ cho một căn, ở lầu hai cư xá Bưu Điện trên đường Hai Bà Trưng, nằm trong con hẻm lớn, đối diện nhà thờ Tân Định.
Rồi năm 63, cuộc đảo chánh 1/11 của các tướng lãnh. Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ là Cố Vấn Ngô Đình Nhu bị giết. Cái chết của Tổng Thống Diệm đã chấm dứt luôn cuộc sống tương đối dể thở của các công chức bậc trung.

Nhà đông con, vật giá càng lúc càng tăng, con cái ngày một lớn, tiền ăn, tiền quần áo, tiền trường đè nặng lên vai Ba. Nên Ba phải làm thêm ‘job’ nữa. Đánh máy mướn!
Vốn xuất thân từ thư ký, sau vừa làm, vừa học, thi đậu cải ngạch thành Cán Sự Bưu Điện, nên Ba đánh máy rất nhanh, chỉ nhìn vào văn bản mà không cần nhìn vào bàn phím chữ. Đánh bằng mười ngón, tốc độ nhanh, nghe như tiếng rào rào đổ trên mái tôn. Mưa!
Cuối đường Phan Đình Phùng, đi về phía Chợ Lớn, rồi quẹo tay phải sang đường Lý Thái Tổ có rất nhiều tiệm Ronéo. Trong tiệm, ngoài giàn máy Ronéo, còn có vài cái máy đánh chữ, bàn ghế ngồi do chủ tiệm cung cấp. Làm ăn chia, tứ lục, 6/4.
Muốn in Ronéo, phải đánh trên giấy stencil. Đó là loại giấy có tráng sáp để khi đánh, chữ sẽ khắc dấu trên sáp; rồi khi đưa vào máy, mực sẽ tràn ra phủ đầy trên những dấu lõm. Dán stencil vào máy, rồi quay bằng tay hay bằng điện. Bài viết sẽ lần lượt được in ra.
Khách hàng đến là các giáo sư, mướn đánh máy bài giảng ở trường đại học, bán ‘cours’ cho sinh viên.
Khách hàng cũng có thể là các nhà văn chuyên viết truyện dài đăng trên báo hằng ngày mà Miền Nam lúc bấy giờ gọi là viết “feuilleton” như Dương Hà, An Khê, Ngọc Linh, Sơn Nam… Họ mang những bản thảo viết tay, thường là khó đọc, đến mướn đánh máy cho rõ ràng để thợ sắp chữ nhà in dễ đọc, dễ sắp chữ trên bản kẽm rồi in ra thành tiểu thuyết.
Giá cả có khác nhau tùy theo khách hàng thường xuyên như các giáo sư hay các nhà văn. Ngoài ra cũng có nhận đánh đơn từ các loại.
Mỗi ngày, Ba cỡi chiếc xe đạp đòn dông, đi làm theo giờ hành chánh từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều. Tan sở lại phải chạy xuống tiệm Toàn Thắng ở cuối đường Phan Đình Phùng để làm cái ‘job’ thứ hai.
Khoảng 9, 10 giờ đêm, mệt mỏi, rã rời sau 16 tiếng đồng hồ làm việc, Ba mới theo đường Phan Thanh Giản, chỉ cho chạy một chiều, để quay trở về Hai Bà Trưng, Tân Định.
Má vẫn thường chờ Ba cơm tối; nhưng 8 anh em tôi thì đã đi ngủ mất rồi. Hôm nào được lãnh lương hoặc đánh máy có tiền nhiều, Ba vẫn thường ghé qua xe bán bánh mì Tám Cẩu ở ngã tư Cao Thắng và Phan Thanh Giản, gần rạp hát Đại Đồng, mua vài ổ bánh mì về cho con.
Về nhà Ba vô giường, bế từng đứa dậy, đặt ngồi ngoài bàn, rồi bảo: “Ăn đi con!”. Ăn thì khoái thiệt nhưng ‘bù ngủ’ híp con mắt luôn! Em gái tôi cắn miếng bánh mì nhai, chưa kịp nuốt thì gục xuống bàn… ngủ tiếp. Ba lại bế từng đứa, cho vào giường ngủ.
Người ta thường bảo người mẹ như cánh cò. Cánh cò lặn lội bờ sông… Ba tôi không phải là cánh cò, Ba tôi là đại bàng nhưng con đông quá, bám vào đôi cánh của Ba nặng trĩu. Ba không bay cao, bay xa được mà chỉ bay là đà; nhưng vẫn phải rán mà bay để tìm mồi về cho vợ và con trong thời khốn khó!
Ba chưa từng bao giờ từ bỏ ước vọng là con mình sẽ được ăn học đàng hoàng, tới nơi tới chốn để cuộc đời không phải vất vả như ba!
Bước ra đời, nếu mình có thành công, có giỏi hơn người khác thường là bị dèm pha, xúc xiểm, ganh tị… nhưng mỗi thành công dù rất nhỏ trên trường đời của con thì Ba lại tự hào, hãnh diện coi thành công đó là rất lớn và là chính của Ba luôn?
Năm 63, tôi thi đậu vào Petrus Ký. Đỡ cho Ba không phải lo tiền trường. Vì nếu rớt, phải đi học tư, tốn lắm! Việt Nam lúc đó đậu vào một trường công lập nổi tiếng như Petrus Trương Vĩnh Ký cho con trai hay Gia Long cho con gái là rất khó. Trường rất có kỷ luật nên học trò trường công không dám ‘cúp cua’ đi chơi nên thường học giỏi hơn học trò trường tư dù giáo sư trường tư lại nổi tiếng dạy hay hơn! Vì dạy hay hơn nên mới được chủ trường tư mời dạy!
Ngày coi kết quả thi vào Petrus Ký, trời đổ trận mưa to. Thầy Trường, dạy luyện thi đệ thất, có danh sách học trò thi đậu, báo tin vui cho Ba. Ba nhường áo mưa cho con, còn mình đội mưa đến. Thầy và Ba bắt tay nhau, hỉ hả cười rạng rỡ, dù nước mưa còn chảy ròng ròng trên má. Tôi thấy thương Ba quá trời! Sao mà khổ dữ vậy? Tôi thấy đậu vô đệ thất, cho dù là của một trường trung học nổi tiếng nhứt miền Nam đi chăng nữa, thì có gì là lớn đâu? Mấy thằng bạn học chung với tôi cũng thi đậu đó thôi!
Rồi khi thi đậu Tú Tài một rồi hai, Ba cũng mừng như chính Ba thi đậu vậy!
Khi vào đại học, Ba muốn con học Luật Khoa để trở thành Luật Sư chẳng hạn… Có lẽ đường hoạn lộ công danh của Ba đã từng bị áp bức, bị đối xử bất công quá hay chăng mà Ba không muốn con mình phải gánh chịu. Phải biết Luật để cho tụi nó sợ mà không dám áp bức lại mình?
Tôi thì thấy chồng ‘Cours’ là đã ‘ớn’. Lại phải tốn rất nhiều tiền để mua nên không muốn đi học Luật; dù trường đó, con đường Duy Tân đó, thơ mộng và có biết bao nhiêu là con gái, tiểu thơ con nhà giàu chưng diện, ẹo tới, ẹo lui?
Ba nói một, hai lần thì tôi vẫn giả bộ tảng lờ. Nhưng lần thứ ba thì con Ba, cái thằng bất hiếu, cứng đầu cãi lại: “Con là con ếch, con nhái mà Ba muốn con to bằng con bò! Không được đâu!”.
Tôi đã nhẫn tâm làm tan nát niềm ước vọng của Ba tôi rồi; mà tôi cứ ‘thản nhiên’ như không? Trời ạ!
Sau nầy vào Đại Học Sư Phạm ra trường, đi dạy, một hôm Ba nói: “Thôi không làm luật sư; làm giáo sư cũng được!”. Dù tôi chỉ là Giáo Sư Trung Học Đệ Nhứt Cấp ‘quèn’ mà thôi?!


Rồi 75 đến nước mất nhưng nhà tôi nhứt định không tan. Cũng sống lầm than mà cũng không nghe Ba một tiếng thở than? Đi tù cải tạo sáu tháng vì là viên chức ngụy quyền, cấp trưởng ty.
Trong tù, Ba tôi vẫn ăn mặc một cách đàng hoàng, tề chỉnh. Đêm trong trại, Ba xếp quần áo lại, lót dưới gối trên đầu nằm cho thẳng thớm. Sáng ra, mặc áo bỏ vô quần, mang giày như thuở còn đi làm; dù mấy thằng cán bộ nhiều lần mỉa mai, phê bình Ba là còn giữ tác phong ‘tiểu tư sản’?
Ba chỉ nói: “Mình mất nước chớ không mất tư cách!”.
Ra tù, Ba lại trở về Sài Gòn, ra Lý Thái Tổ ngồi đánh máy mướn để nuôi đàn con: đứa thì đi tù vì là sĩ quan Ngụy, đứa thì bị đuổi!
Ba vẫn ăn mặc rất đàng hoàng, vẫn áo trắng bỏ vô quần, vẫn mang giày, dù cũ, ra đánh máy mướn, làm đơn cho bà con cô bác Sài Gòn đi thăm nuôi chồng, con đang ở tù cải tạo.
Cuộc sống cực kỳ khốn khó mà Ba vẫn không than van; vẫn không phiền trách ai đã làm cho mình mất nước!
Bà con ở Hố Nai, có thời đi lính Liên Hiệp Pháp, xuống nhờ Ba đánh đơn gởi Tổng Thống François Mitterrand để xin đi định cư. Là người học chương trình Pháp, Ba viết thơ cảm động làm sao đến nỗi ông Chánh Văn Phòng của Tổng Thống hồi đáp ngay, rồi Ba dịch ra tiếng Việt cho bà con nghe là: “Tổng Thống Cộng Hòa Pháp đã nhận được thơ ông và chỉ thị cho bổn chức chuyển hồ sơ qua Bộ Ngoại Giao để làm các bước tiếp theo!”. Sau đó cũng có vài gia đình được đi Pháp định cư.
Có lần ông chủ một cây xăng ở Rạch Giá bị đánh tư sản, bị đuổi đi vùng kinh tế mới, khổ quá, ông trốn về Sài Gòn và gặp lại Ba. Ông vẫn còn gọi Ba là ông Trưởng Ty như ngày cũ?!
Ông nói vì không có hộ khẩu nên không làm được thông hành và chiếu khán nhập cảnh Hoa Kỳ; dù con ông đã gởi đơn về bảo lãnh. Ba lại giúp ông làm đơn gởi cho bọn Công An, bộ phận xuất nhập cảnh ở đường Nguyễn Trãi, Chợ Lớn và Tòa Đại Sứ Mỹ ở Bangkok, Thailand. Đơn thành công và ông được ra đi!
Trước ngày đi, bùi ngùi từ giã, ông nói: “Tôi đi rồi không biết chừng nào mới có dịp gặp lại ông Trưởng Ty” Rồi rưng rưng nước mắt, bắt tay chào vĩnh biệt!
Raoul Wallenberg (1912 –1947), nhà ngoại giao Thụy Điển,
đã cứu hàng chục ngàn người Do Thái ở Hungary thoát khỏi Holocaust, lò hơi ngạt của Phát Xít Hitler trong Thế chiến thứ hai. Ông đã cấp những thông hành bảo vệ (Schutz-Pass) và cho những người Do Thái ẩn náu trong những tòa nhà thuộc tòa đại sứ Thụy Điển ở hải ngoại.
Ngày 17.1.1945, Hồng quân Cộng Sản Liên Xô tiến vào Budapest, Hungary bắt ông giam cầm và ông chết ngày 17.7.1947 trong nhà tù Lubyanka ở Moskva.
Trái tim vĩ đại của một con người nhân hậu đã mãi mãi thôi không đập nữa!
Chủ Nghĩa Phát Xít và Chủ Nghĩa Cộng Sản đều tàn ác như nhau.
Chính bọn chúng đã giết đi những người nhân hậu!
Dĩ nhiên thân phụ tôi không thể cứu được nhiều nạn nhân như ông Raoul Wallenberg đã từng làm; nhưng chí ít Ba tôi cũng đã giúp được một số người, dù con số đó rất nhỏ nhoi, vượt thoát khỏi gông cùm Cộng Sản.
Chỉ có một trái tim nhân đạo mới dám, mới làm được như thế!
Ba từng nói: “Giúp được ai, dù là chuyện nhỏ, để làm cho họ bớt thống khổ hơn là điều phải làm con ơi!”

Năm 81 thằng em thứ 5 của tôi liều chết vượt biên đến được Pulau Bidong, Mã Lai. Về Adelaide, Nam Úc định cư, nó lần lượt lãnh Ba và các anh em qua. Rồi cả gia đình đoàn tụ!
Đêm nay, ngồi trước bàn phím computer, viết bài nầy do anh Hoàng Định Nam, báo Trẻ Garland Texas đặt bài, nhân Father’s Day bên Mỹ, tôi lại nhớ đến cái bàn máy đánh chữ của Ba. Nhớ mười ngón tay xương xẩu, cong vòng của Ba, gõ trên bàn đánh máy mà ngày xưa người ta thường cảnh báo về già sẽ bị đau tim mà chết. Nhưng Ba không sợ! Mười ngón tay đó của Ba đã nuôi anh em con ăn học, đủ để sống sót và làm lại cuộc đời nơi đất lạ quê người. Tụi con xin cảm ơn Ba!
Ba bỏ tụi con đi, năm nay nữa là 15 năm chẵn. Tiếng gõ trên bàn máy chữ vẫn rào rào như tiếng mưa rơi… vẫn còn vang động đâu đây!
Nhớ và thương vô cùng cái dáng của Ba còng lưng trên xe đạp trong những ngày ngược gió.
Nhớ bánh mì Tám Cẩu Ba mua; mà đút vào miệng chưa kịp nhai tụi con đã gục đầu xuống bàn… mà ngủ tiếp.
Nhớ cái bắt tay của Ba với thầy Trường ngày con đậu vào đệ thất.
Người ta cần tới Father’s Day, Chúa Nhựt, tuần lễ thứ ba của tháng sáu như ở Hoa Kỳ hay Chúa Nhựt, tuần lễ thứ nhứt của tháng chín ở Úc để kỷ niệm ngày từ phụ, để nhớ tới phụ thân!
Còn con, con nhớ Ba mỗi ngày, khi còn sống, cho đến lúc nào đó con sẽ được gặp lại Ba!

đoàn xuân thu
melbourne