Showing posts with label Kỷ niệm. Show all posts
Showing posts with label Kỷ niệm. Show all posts

Thursday, February 6, 2014

Chuyện ngựa 2!




đoàn xuân thu. melbourne ::



Quê người, Melbourne, thứ ba, 4 tây tháng 11 năm nay là Úc xúm nhau lại đua ngựa, gọi là Melbourne Cup, lớn nhứt Úc Châu. Nhà người viết bên nầy sông, nhìn qua sông không phải là vùng địch đóng mà bên kia dòng Maribyrnong êm đềm, lặng lẽ là trường đua ồn ào, náo nhiệt! Người ta quần là, áo lượt đông vui! Vậy là sắp hết một năm rồi đó; lại xe đi giữa mùa thổi rượu (mùa nầy Úc xỉn nhiều lắm nên cảnh sát nó lập trạm, thử rượu, thử drug, để xé bằng lái của mấy thằng ngu!)

Người ta đi giữa mùa thổi rượu thì ông chủ bút nhà mình đi giữa mùa bán báo. Báo Tất niên, báo Xuân rồi báo Tân niên. Ông ‘hú u!’ Bài báo xuân theo truyền thống đi ông ơi! Viết vui lên nhá!

Dà! Anh ‘lịnh’ thì người viết viết thôi! Nhớ gởi chút tiền còm, nhuận bút, ăn Tết nha anh!

Để cho vui! Xin hỏi đố độc giả là: Con vật nào đi ngủ mà mang giày? Câu trả lời là: Con ngựa! Con vật nào lễ phép nhứt? Câu trả lời cũng là: Con ngựa. Vì sao ngựa lại lễ phép? Vì đang phi nước đại tới hàng rào, nó kính cẩn dừng lại cho ‘tui’ qua trước. Ngựa lễ phép thấy thương ghê mà mình, đầu, mắt nổ đom đóm!

Nhớ hồi xưa trong làng, Tía Má ở quê hay rầy con gái xí xọn. “Ngựa dữ à nha!” Tây hổng biết nó có học được cái ‘bí kiếp’ nầy để rầy, để cảnh báo con mình không mà: Có một anh nài ngựa luôn luôn thắng độ. Hỏi bí quyết gì, khi về hưu, anh mới chịu tiết lộ. Anh chuyên cỡi ngựa cái. Mà ngựa cái ‘xí xọn, trăng hoa’, nghĩa là ‘ngựa’ lắm; nên trong cuộc đua khi rạp mình xuống, cho đừng cản gió, anh chỉ cần thầm thì cảnh báo rằng: “Con ngựa, chồng ‘cưng’, nó đang chạy ở đằng sau kìa!” Thế là em luôn luôn phi như bay về nhứt!

đoàn xuân thu.
Melbourne

Lang thang trên mạng:

1. Chuyện ngựa 1!

Muốn gởi bài này cho bạn bè,
xin bấm mouse chọn
Twitter, email, Facebook hay Google+ 
ở lề bên trái.

Tuesday, February 4, 2014

Chuyện ngựa 1!





đoàn xuân thu. Melbourne ::

Thưa quý độc giả thân mến!



Trước tiên, người viết xin kính chúc xuân quý độc giả thân thương của bổn báo:


“Năm mới Tết đến. Rước hên vào nhà. Quà cáp bao la. Mọi nhà no đủ. Vàng bạc đầy hũ. Gia chủ phát tài. Già trẻ gái trai. Sum vầy hạnh phúc. Cầu tài chúc phúc. Lộc đến quanh năm. An khang thịnh vượng! Thịnh Vượng cái mà Thịnh Vượng!”


Trước thềm năm mới, năm Giáp Ngọ 2014 nầy, theo ‘Thầy’ phán rằng: ai sanh ra trong năm này thì cuộc đời có nhiều hay đẹp! Có nhiều may mắn về tài lộc cũng như về công danh và sự nghiệp; có phần lên cao vào trung vận, và hậu vận có kết quả tốt. Tóm lại, tuổi Giáp Ngọ có nhiều may mắn suốt cuộc đời!

Nên người viết xin ‘tư vấn’ quý cậu nào chưa vợ thì cưới vợ đi! Quý cô nào chưa chồng thì lấy chồng đi! Sau đó cùng nhau sản xuất ‘bế bi’ cho vui nhà vui cửa!

Và bài viết năm nay cũng không qua thông lệ là: Năm ngọ nói chuyện ngựa!

Trước hết là chuyện ngựa quê nhà, chuyện ngựa của tuổi thơ ‘tui’.

Cây D. Ngựa
(Hình commons.wikimedia.org )
Hồi nhỏ đi học tiểu học, ngôi trường làng Trung An, Mỹ Tho, thơ mộng nằm cạnh một dòng sông nhỏ. Người viết ôm cặp đệm, trong đó có nắm xôi, xách bình mực tòn ten cùng hai, ba đứa bạn đi dọc theo hàng cây ‘d. ngựa’ mà Tây trồng dọc theo lề con lộ để đến trường. Suốt một thời thơ ấu con mang theo:


Cặp đệm má đương, nắm xôi má nấu, xôi nếp một, bếp bình minh khói toả, đường mía lau thơm, vị ngọt quê nghèo!

Khi trống trường tan học thì cũng men theo lối cũ, đi về. Những năm năm mươi quê nhà thanh bình yên ắng lắm, trên đường ít xe, ít cộ, không lo tai nạn gì cho mấy đứa nhỏ, học trò. Còn bây giờ trong nước, ra đường sợ lắm, sợ mấy thằng cán bộ nhậu say, lái xe điên trên phố!

Đường vắng, thỉnh thoảng giờ tan học trên đường về, đôi khi có chú Bảy C. (Dà! Viết tên ổng có một chấm lửng cho quý độc giả thân thương thêm vào! Chớ viết luôn, mắc cỡ lắm! Người ta có một là đủ ‘nhột’ rồi mà ông nầy có tới bảy?), đánh xe ra chợ Mỹ. 

Lâu lâu chú Bảy cho mấy thằng nhỏ, học trò quá giang. Ngồi trên xe ngựa thiệt là khoái! Tiếng gõ nhịp lóc cóc đều đều trên đường nhựa, gió hiu hiu, lâu lâu lại nghe chú Bảy ngọ nghẹ gì đó với con ngựa. Con ngựa ‘hí hí’ đáp lại! Té ra con ngựa cũng biết nghe và biết nói nữa he!

Sau nầy xa quê, xa cái làng Trung An thuở đó, xa luôn tiếng lóc cóc của chiếc xe ngựa ngày nào và xa luôn chú Bảy C.!

Chữ gọi xe ngựa là xe thổ mộ và người đánh xe ngựa là xà ích. Thôi xài chi tiếng khó hiểu. Trong lòng người viết vẫn còn hoài hình ảnh chiếc xe ngựa và chú Bảy C.

Cám ơn chú Bảy đã cho thằng nhỏ quá giang không phải một lần, mà nhiều lần nên dù chú có 7 hay chú có tới 10; thiệt người viết cũng không dám ‘cà nanh’ đâu chú Bảy của tuổi thơ ơi!

đoàn xuân thu.
Melbourne


Muốn gởi bài này cho bạn bè,
xin bấm mouse chọn
Twitter, email, Facebook hay Google+ 
ở lề bên trái.

Hình trái Dái Ngựa:



Hình trái Dái Ngựa: (Hình do tác giả gởi với lời bàn "coi giống hơn..."




Monday, December 30, 2013

Trang nhật ký quên đề ngày


Gia Long áo tím tại NSW, Úc
(Hình gialongnsw.wordpress.com)


                                                                                                                                          Diệu Xuân ::   

Anh……..,
Tính đến nay đã gần 10 năm rồi chúng mình chưa gặp lại nhau. Thời gian tàn nhẩn quá cứ lao đi vùn vụt, không chờ đợi ai, để cho những kẻ đã yêu nhau, đã xa nhau phải ngậm ngùi, hối tiếc…. Em còn nhớ lúc bấy giờ em là nữ sinh lớp đệ Tam A10 Gia Long, yêu anh sinh viên Đại Học Sư Phạm Sài Gòn. Tình yêu chúng mình là những lá thư màu xanh, là những quyển sách trao tay, là những buổi hẹn hò sau giờ tan học….. Em còn nhớ chúng mình thường hẹn nhau ở đường Ngô Thời Nhiệm, nơi cổng ấy học sinh ra về ít hơn các cổng kia, em muốn tránh những cặp mắt tò mò của lũ bạn cùng lớp, nhưng cuối cùng vẫn không tránh khỏi lưới mắt bọn chúng. Chúng nó khen anh đẹp trai, dễ thương làm em cũng “ hĩnh mũi”.


Ở trường em có nhiều xe Hiệu Đoàn đưa rước học sinh lắm, và em đã đi xe đưa rước từ năm lớp 6 đến hết lớp 12. Hằng ngày đi học, em ra đứng ở đầu hẽm, đúng giờ xe đến rước, đến lúc tan học, xe đưa em về tận nơi. Cuộc sống của em thật ngây thơ trong sáng, đóng khung trong võ bọc gia đình- học đường mà thôi. Từ khi quen biết anh, biết hẹn hò, em thấy mình lớn hẳn ra. Có hôm em lén bỏ xe đưa rước, nhảy phóc lên chiếc xe “veslo cà tàng” của anh để được anh chở về nhà, em cảm thấy vui hơn làm sao. Những lúc ấy mình phải tính thời gian sao cho đúng với giờ xe Hiệu Đoàn đưa em về. Có khi mình chạy vòng vòng Sài Gòn chơi hoặc ghé váo hàng chè Hiển Khánh. Lỡ có hôm về trễ, má hỏi lý do, em xấu hổ đổ lỗi “xe đưa rước bị PAN... ” Thế mà má cũng tin. Má có biết đâu con gái của má được “bồ” chở về.

Một hôm, anh bảo là anh sẽ thực tập ở trường Gia long môn Sử lớp Đệ Tam nhưng chưa biết lớp nào? Em mong anh đừng vào lớp em, đừng gọi tên em trả bài, anh mà gọi em trả bài chắc là em “xỉu” quá. Anh cười ha hả và trêu em:
- Anh sẽ gọi tên em đọc bài và cho điểm không vì tội không thuộc bài, vì tội đi chơi với thầy giáo.
Không nhờ sự lo lắng của em đã thành sự thật, phái đoàn “thầy giáo” của anh thực tập ở lớp em. Tim em đập thình thịch, hú vía, anh không gọi tên em lên trả bài. Suốt giờ học em có nghe thấy gì đâu, chỉ nhìn anh say sưa giảng bài, đầu óc em phiêu lưu tận đâu đâu, hết tiết học mà em vẫn còn ngẩn ngơ. Lũ bạn có cơ hội dịp tiếp cận anh không ngớt lời khen tặng, nào “ bô giai”, nào dạy hay, nào chữ viết đẹp…v.. v.... lại còn bảo chúng mình xứng lứa vừa đôi nữa….
Ngày hôm sau vừa mới gặp mặt, anh khen trường em rộng lớn khang trang, có bóng mát cây xanh cao thoáng khí. Giờ ra chơi các em như những cánh bướm trắng tung tăng nhởn nhơ, ẩn hiện sau những khóm hoa như cảnh tiên nơi hạ giới. Em hỏi anh:
- Đã quen được em bướm trắng nào chưa?
Anh nắm chặt tay em cười nói:
- Có, có rồi em bướm trắng xinh đẹp của anh đây.
Em thẹn thùng cắn vào tay anh…
Được anh khen em sẵn trớn khoe khoang thêm về trường mình:
“ Anh biết không, trường em lớn, dạy đủ các bộ môn, có phòng thí nghiệm cho môn Vật Lý, Hóa Học, có phòng thực tập cho môn Nữ Công Gia Chánh, có Thư Viện, ngoài ra có sân tập Thể Dục, sân dạy võ Judo cho nữ sinh….. ”
Nghe đến dạy võ cho nữ sinh, anh kêu lên:
- Các em bướm trắng cũng học võ Judo nữa à? Như vậy mỗi lần giận anh, em đừng cho anh đo ván nhe?
Em cười đắc ý, tiếp tục phô trương:
“ Chưa hết đâu anh, còn có Bịnh Thất nữa. Đây là trung tâm gặp gỡ của những “tâm hồn lười biếng “. Bịnh Thất ở cuối trường, phía đường Ngô Thời Nhiệm cùng một dãy với 4 lớp Đệ Tam. Bịnh Thất có khoảng 7, 8 giường gì đó em không nhớ rõ. Đây là nơi chuyên trị bịnh nhức đầu và đau bụng, bịnh thật thì ít, bịnh giả thì nhiều. Em bướm nào chưa làm bài, chưa thuộc bài, bay xuống Bịnh Thất vờ ôm đầu, ôm bụng, được cô y tá cho viên thuốc nằm tịnh dưỡng, qua khỏi “ tiết học đau khổ” tự dưng bướm hết bịnh và bay về lớp. Lớp Đệ Tam A10 của em ở liền vách với Bịnh Thất, nhưng chưa bao giờ em bước vào Bịnh Thất, vì em là” công dân tốt” học giỏi chăm ngoan“.
Khi yêu anh, em mơ mộng nhiều, lại còn dành thời gian để hò hẹn cùng anh nữa, nên có hôm quên làm bài tập toán, em phải giả đau bụng vào nằm Bịnh Thất. Điều này em đã giấu anh vì sợ anh cười chế riễu…..

Chuyện tình của đôi ta cứ thế diễn tiến rất êm đềm và đầy kỷ niệm, để rồi có một ngày, và ngày đó vẫn ghi đậm trong ký ức của em. Hai đứa chở nhau ra ngoại thành chơi, bất chợt anh ôm chặt lấy em, kề môi anh sát vào môi em, người em run rẩy và trong trạng thái vừa sững sờ bỡ ngỡ vừa thẹn thùng sợ người ngoài trông thấy, em vội vàng đẩy anh ra và đưa tay lau miệng lia lịa. Trong lòng em nghĩ thầm: anh làm gì “ kỳ cục” quá, “ bạo “ quá giữa thanh thiên bạch nhật. Sau lần đi chơi nầy anh ít khi hò hẹn, hai đứa ít gặp nhau, rồi anh bặt tin luôn. Vắng anh em buồn lắm. Em vẫn thường đến chỗ hẹn cũ rồi lũi thũi ra về một mình. Em bâng khuâng tự hỏi: Vì sao vậy anh??? Em có lỗi lầm gì hởi anh??? Hay là anh đã có một em bướm trắng khác rồi nên quên em. Với niềm tâm sự khó giải bày, cùng nỗi suy tư sầu muộn khiến em lơ là việc học, đôi lúc phải trốn tránh trách nhiệm người học trò, đóng kịch bịnh hoạn để vào Bịnh Thất mà ….. tương tư đến anh.

Tốt nghiệp mảnh bằng Tú Tài Toàn Phần, rời trường Gia Long em thi vào trường Đại Học Sư Phạm. Đấy là mộng ước của em hay là em vẫn còn mang nặng tình anh???? Cuối năm thứ 2 Sư phạm, nhờ có các bà chị ngồi ở các bàn cuối, dẫn đi xem phim “HELGA” trình chiếu tại rạp Văn Hóa Đa Kao Tân Định, em mới biết: khi yêu nhau người ta hôn môi nhau. Khi muốn có em bé người ta phải làm “chuyện đó” và người ta sanh em bé ra ở ”chỗ đó”. Em chợt nhớ đến anh, nhớ lại buổi đi chơi ngoại thành với anh. Anh đã hôn em mà em không biết cách để tiếp nhận, em vô tình đã đẩy anh ra, sự ngây thơ khờ dại của emđã lỡ lầm…đánh mất tình yêu của anh…. Em hối hận lắm….

Hôm tốt nghiệp em thoáng thấy anh ở cổng trường, em nép người sau góc cột lén nhìn anh, vẫn hình dáng đó, vẫn khuôn mặt đó, vẫn trìu mến, vẫn điềm đạm như ngày nào. Em muốn gọi tên anh, muốn chạy đến bên anh, muốn nói với anh.. một lời xin lỗi muộn màng vì em nhất thời chưa đủ trí khôn để hiểu ý nghĩa của nụ hôn. Bây giờ em biết rồi, anh hôn em đi, em sẽ không đẩy anh ra đâu, em sẽ ôm chặt lấy anh để thể hiện tình yêu của em, rồi mình sẽ làm đám cưới, sẽ lấy nhau, sẽ làm ” chuyện đó”, sẽ sanh nhiều con cái….. Nhưng sự e dè, nhút nhát của người con gái đã không cho phép em hành động theo ý tưởng. Em lặng lẽ thần thờ nhìn anh bước, bóng anh khuất dần….. khuất dần …. và nhạt nhòa qua màn lệ. Em đã mất anh thật rồi! mất thật rồi anh yêu dấu ơi !!!!

Anh…..
Bây giờ anh ở đâu? Tận chân trời hay gốc biển nào? Anh có nhớ đến em không? Anh có thường đi qua trường Gia Long của em không? Anh còn nhớ chỗ hẹn hò của chúng mình ngày xưa không anh? Anh còn nhớ những chiều chúng mình dạo phố không anh? Em nhớ anh… nhớ nhiều lắm!!!!Em luôn sống trong sự dằn co giữa lý trí và tình cảm. Tình yêu thôi thúc em muốn tìm đến anh, Lý trí lại kéo em về với bản năng tự trọng…. Thôi thì chúng mình hãy giữ tình yêu trong sáng đầu đời của 2 kẻ yêu nhau và vì CHƯA NHẬN THỨC hay vì KHÔNG DUYÊN PHẬN nên đành lỡ nhịp cầu ân ái... Xin cám ơn tình yêu của anh đã dành cho em. Xin cám ơn cái góc hẹn hò trên đường Ngô Thời Nhiệm của mái trường cổ kính Gia Long thân yêu…đã dạy em yêu người bằng trái tim và gìn vàng giữ ngọc trái tim yêu đó trong Gia Phong Lễ Giáo… Em sẽ nhớ mãi…. Đến mãi đế ngàn thu…
Lời tỏ tình anh trao thời trai gái
Nụ hôn đầu kết trái vị nồng cay
Mềm môi một thoáng hương say
Tình em chưa ngỏ…. vụt bay mất rồi….
Diệu Xuân

Lang thang trên mạng:





Muốn gởi bài này cho bạn bè,
xin bấm mouse chọn
Twitter, email, Facebook hay Google+ 
ở lề bên trái.

Thursday, December 26, 2013

Người cô đơn đêm Giáng Sinh























Đây là câu chuyện thật của mùa Giáng Sinh năm 2004,
chỉ có tên chàng phi công trẻ đã được thay đổi…

B. Trần::

Cũng như mọi người, hai tuần trước Giáng Sinh tôi cũng bận bù đầu. Làm việc overtime suốt để giải quyết công việc không cho tồn đọng lại ngày hôm sau. Chiều ngày 24/12 tôi về đến nhà khoảng 4 giờ chiều. Nằm dài trên sofa, nhắm mắt một tí… được nửa giờ hay một giờ cũng tạm khỏe để tối nay nhâm nhi suốt sáng cùng các bạn.

Bảy giờ tối chuông điện thoại nhà reo vang. Thằng con út tôi vội vàng trả lời, tôi nghe tiếng trả lời xầm xì, xong nó chuyển điện thoại qua tôi.
- Ai vậy con? Úc hay Việt?
Tôi tò mò hỏi trước khi tiếp điện thoại.
Thằng con tôi ngần ngừ trả lời:
- Nửa Úc nửa Việt…
Tôi vừa cầm ống nghe trả lời: Hello… Đầu giây bên kia lên tiếng trước:
- Chào anh, em là Đan, Đan… không quân Mỹ…
Giọng chàng trai trẻ làm tôi chực nhớ ngay anh chàng lần trước tôi đã “gặp”. Thật sự thì tôi đã gặp; không phải gặp trên mạng, không phải gặp ngoài phố, không phải gặp trong dịp tiệc tùng cưới hỏi nào đó, mà thuần túy gặp trên điện thoại.

Lonely this Christmas
(Hình www.4sharedmp3skull.com)
Lần trước Đan, chàng trung úy phi công trẻ, vì công tác, bay từ Okinawa sang Úc Châu phải đáp lại phi trường quân sự gần nhà tôi ở. Chàng phải ở lại phi trường nầy hai ngày một đêm. Không thân nhân không bạn bè nơi xứ lạ, chàng chỉ lục lạo trong niên giám điện thoại tìm các tên mang họ Việt Nam. Tìm nhưng không cần tới gặp. Tìm chỉ để điện thoại, tâm sự, tán gẫu, giải sầu… Đan nói tiếng Việt cũng khá rành nhưng thỉnh thoảng phải chen vào tiếng Anh. Càng nói nhiều chúng tôi cảm thấy thân thiết hơn và Đan cho tôi biết cuộc đời riêng tư của chàng nhiều hơn…

“…Sáu giờ sáng ngày 30/4/75 anh Hai lái xe về nhà tìm ba má. Ba má không ở nhà, anh Hai em liền bốc em thảy lên xe jeep chạy thẳng vô phi trường. Lúc đó em khoảng 8 tuổi,em nào biết đi đâu. Lần đầu tiên đi máy bay em vui mừng vô cùng. Cảm giác lâng lâng bay bổng. Đoàn trực thăng bay hướng về miền Tây. Phi cơ chưa đáp xuống phi trường Cần Thơ đã nghe tin Tổng Thống ra lệnh đầu hàng. 

Lần đầu tiên trong đời Đan chứng kiến anh Hai khóc và các bạn anh cùng khóc và chửi thề ỏm tỏi trong phi cơ. Anh Hai và các bạn anh quyết định tức thì, đổi hướng bay ra Đệ thất hạm đội ngoài biển Đông.

Ba tháng sau, Đan và người anh đặt chân đến Mỹ như một người tỵ nạn. Vì miếng cơm manh áo anh của Đan phải di chuyển chỗ ở luôn. Anh Hai phải đi từ tiểu bang nầy sang tiểu bang khác. Đan được một gia đình người Mỹ nhận nuôi. Xong trung học Đan lại thích theo nghề bay bổng như người anh khi xưa. Đan vào quân đội, thi đậu vào ngành không quân.
Mùa Giáng Sinh năm 2004, tôi còn nhớ như in đêm 24/12, Đan lại điện thoại cho tôi để tâm sự. 

Sau vài phút chuyện vãn, Đan than thở, em buồn không biết đi đâu, không ai nói chuyện, tôi hỏi:
- Bây giờ em đang ở đâu? Nếu em đang ở phi trường Williamtown tôi sẽ đến chở em về nhà và cùng uống bia vui chơi đón Giáng Sinh cùng với gia đình tôi. Từ nhà tôi tới đó, lái xe chỉ mười phút thôi…

Ngập ngừng giây lát tôi nhận được câu trả lời từ Đan:
-Không được anh à, em đang bị kỷ luật, em không được ra khỏi đây. Em chỉ được quyền xử dụng điện thoại liên lạc với người thân bên ngoài… Em đi ra ngoài là gặp “big big trouble….” đó anh, anh có rảnh cứ ngồi nói chuyện với em cho đỡ buồn…

Tôi xúc động quá, chợt nhớ những lần trước, bốn tuần trước khi Đan điện thoại tôi, chàng ta cũng từ chối khi tôi đề nghị tới đón chàng ra ngoài vui chơi cuối tuần. Lần ấy Đan không cho tôi biết chàng ta đang bị phạt hay không.

Phi trường Williamtown nằm ở phía bắc thành phố Newcastle. Ngày xưa là phi trường quân sự, bây giờ được phát triển lớn ra, phía bên trái làm phi trường dân sự, bên phải được phát triển lớn ra thành một căn cứ rất tân tiến cho các phản lực cơ FA18. Cổng trước vào phi trường quân sự có đội quân cảnh kiểm soát rất nghiêm ngặt. Đan đâu dễ gì trốn ra ngoài đi chơi được.

Lần nầy nói chuyện hơi thân thiết, tôi hỏi tiếp:
- Em làm gì mà bị phạt vậy?
- Thì uống rượu, đánh lộn, đời lính mà anh. Buồn chán chỉ có rượu giải sầu thôi. Bây giờ tụi nó liệt em vào A A rồi (Alcohol Addict).
- Đang công tác mà uống rượu được sao?
- Được chứ anh, đang bay mà vẫn uống rượu được nữa đó!
- Em nói thiệt hay nói giỡn? Đang bay uống rượu có còn tỉnh táo để điều khiển máy bay không?

- Em nói thiệt đó, lúc mới ra trường em lái trực thăng. Vì “ba gai” quá tụi nó không để em lái nữa, chuyển qua công tác với máy bay vận tải loại lớn C130. Qua công tác bên nầy gặp nhóm bợm còn uống dữ nữa. Anh biết, loại vận tải cơ C130, bay đường xa: Mỹ qua Okinawa bên Nhật, qua đảo Guam, qua Úc… Mỗi lần bay, nhóm phi công có 5 người trên máy bay. Thằng nhóm trưởng là đại úy, nó cũng uống mà uống rất ít vì nó chịu trách nhiệm toàn bộ. Khi máy bay cất cánh xong, lên đúng độ cao, đúng hướng là thằng phi công trưởng “set up” auto pilot. Để máy bay tự động bay, chỉ lâu lâu quay lại phòng lái kiểm soát chút ít. Bốn năm thằng ngồi xuống đánh bài và uống whisky. Một hai tiếng trước khi đáp xuống là thằng đại úy tịch thu hết rượu khóa lại…

- Khi tới nơi có bị phát hiện uống rượu không?
- Lúc có lúc không anh ạ, lần nầy em bị phạt đến ba tháng lận, công tác bay đi đâu thì đi, khi đến nơi không được ra khỏi cửa căn cứ không quân. Em bị phạt hoài không thể thăng cấp được. Anh biết? Em mang cấp bậc trung úy nầy bảy năm rồi, không nhúc nhích, không lên lon nổi… Anh biết không? Quân cảnh Mỹ ở Hawai, quân cảnh ở Guam, quân cảnh ở Okinawa đều biết mặt tụi em vì uống rượu vô rồi quậy. Hễ lần nào ba thằng em vô club uống rượu là có chuyện và quân cảnh chở về.

- Rồi tối nay mấy thằng kia đâu rồi? Nó cũng bị phạt giống như em hả?
- Thằng đại úy và thằng kia bắt taxi đi ra phố chơi rồi. Còn em và hai thằng bạn bị “cầm chân” ở lại trong căn cứ nầy. Xài điện thoại gọi trong nội địa tự do. Hai thằng kia cũng chưa có vợ con, tụi nó xài cell phone gọi về ba má, thân nhân tụi nó.
- Em có gọi về Mỹ không?

Giọng Đan trầm xuống nghẹn ngào:
- Em không biết em còn có ai, mấy năm trước em gặp người quen bên Mỹ cho em biết anh Hai em đã ly dị, ảnh ghiền casino và bây giờ là sống homeless, hiện tại không biết nơi nao mà liên lạc. Mẹ nuôi người Mỹ đang sống nơi viện dưỡng lão đã không còn trí nhớ nữa rồi.
- Vậy có điện về Việt Nam để chúc mừng ba má bên bển không?
- Không anh à, ba em đã mất trong trại cải tạo! Mẹ em quá buồn khổ cũng mất hai năm sau đó.

Ngưng nói độ vài phút xong tôi nghe giọng nói hơi nghèn nghẹn nơi mũi chắc em đang khóc.
-Chào anh nhe, em điện lại anh ngày mai nhe…
Nghe đến đây tôi hơi hối hận vì đã hỏi em nhiều về gia đình em… đã gợi lại những vết thương đang mưng mủ nơi em... Gác điện thoại xong, tôi ngồi thẫn thờ…

Mọi người đều cần có một tổ ấm, mà em không còn một tổ ấm nào. Em trở thành người tứ cố vô thân từ năm tám tuổi. Lớn lên cũng có bạn, bạn nơi làm việc, bạn nhậu không phải là tổ ấm. Không thể thay thế cho tổ ấm gia đình. Có lẽ đó là lý do sâu xa đẩy em vào con đường nghiện rượu…

Mùa Giáng Sinh người Tây phương cũng thường dùng chữ “Season’s Greetings”, tự nó nói lên một ý nghĩa rất hay. Mùa để các người thân yêu trở về gặp gỡ nhau, để tình yêu thương được hâm nóng được nẩy nở hơn…Người bạn trẻ, người mà tôi chưa bao giờ gặp mặt, đang chơi vơi giữa dòng đời, đang thật sự cô đơn không biết khi nào bạn mới có cơ hội có một tổ ấm để đến, để được yêu thương.

Kể từ sau Giáng Sinh 2004, em đã không điện thoại lại tôi lần nào nữa. Hy vọng em đã có và sẽ có những Season’s Greetings đẹp đẽ.
Ben Trần

Giáng Sinh 2013

Lang thang trên mạng:






Muốn gởi bài này cho bạn bè,
xin bấm mouse chọn
Twitter, email, Facebook hay Google+ 
ở lề bên trái.

Friday, August 9, 2013

Tưởng niệm


Minh Tú::


M ỗi năm đến tháng tư, người dân Việt dù ở nơi nào trên thế giới cũng nhớ về ngày Quốc Hận. Riêng tôi…tôi có nỗi buồn gấp đôi so với mọi người. Nếu nói mất nước là mất tất cả thì tôi có thêm 1 mất mát gần như tất cả, tôi mất mẹ vào tháng tư đen cách đây 6 năm.



Mẹ già
(hình mtgcaimon.net )
Sau 22 năm sống xa quê hương. Má tôi ở Na Uy với anh tôi, lúc tuổi đời đã cao, vào tuổi thượng thọ 84, má tôi suy yếu nhiều. Em gái tôi đề nghị nên đưa má tôi về Việt Nam sống với em gái tôi, và anh tôi đã đưa má tôi về sống tại quê hương trong quãng đời còn lại của người được 2 năm 2 tháng.

Năm đó khi nghe em tôi báo tin má tôi đã suy yếu, tinh thần cũng kém minh mẫn nhiều. Tôi thu xếp việc gia đình và xin lấy ngày nghỉ phép ở chỗ làm để về việt Nam thăm má tôi trong tháng 5, mà tôi đoan chắc là lần thăm viếng cuối cùng. Tôi điện thoại cho em báo tin và còn nói đùa một câu "chị về thăm má đầu tháng 5. Chị không muốn về Việt nam trong tháng 4 để Việt cộng tuyên truyền là chị về ăn mừng nó chiến thắng Miền Nam”

T ôi vui mừng khấp khởi vì sắp được gặp lại má tôi, tôi dự định sẽ mua quà gì cho má tôi, sẽ kể chuyện vui buồn gì của gia đình nhỏ chúng tôi cho má nghe và tự hứa với lòng sẽ sống thật trọn vẹn không rời xa má trong 5 tuần lễ quý báu này cũng tương tự như những lần thăm má tôi ở Na Uy vậy….Tôi sẽ từ chối những cuộc đi chơi ngoạn cảnh bên ngoài cho dù rất lý thú để ở nhà tâm sự cùng mẹ, cho bỏ những ngày dài xa cách nhớ nhung

Hồi tưởng lại những chuyến thăm viếng đã qua khi má tôi còn sống ở Na Uy, khiến lòng tôi nao nức chìm trong nỗi nhớ. Mỗi sáng tôi dậy thật sớm, sang phòng má tôi và nằm chung trên một chiếc giường đơn nhỏ mà êm ái và ấm áp làm sao. Tôi có cảm tưởng như sống lại thời thuở nhỏ, được má gọi là “Bé”. Mẹ con tôi ôn lại biết bao kỷ niệm từ thuở tôi còn nhỏ xíu, từng câu nói ngây ngô, dễ thương của tôi như thế nào. Má tôi nhắc lại chuyện mỗi lần má tôi ở quê ra chợ (quê tôi ở Sa Đéc đến 9 tuổi mới lên sống ở Sài Gòn).

Dân quê Miền Tây vài tuần mới đi chợ một lần, vì có sẵn tôm cá, rau cải ở ao và vườn nhà. Tôi đều dặn má tôi ”Má mua dùm con bánh bò nghen má “, hoặc bánh tằm ngọt là 2 món mà tôi thích nhất. Má tôi cười hỏi lại “Con nói mua dùm thì đưa tiền cho má đi chớ“. Thuở nhỏ mới 6, 7 tuổi ở quê tôi làm gì có tiền nên chỉ bẽn lẽn cười trừ.

Rồi nhắc chuyện Ông Bà nội tôi, Bà nội rất thương má tôi, Ông nội thì khó tánh không chịu ăn gạo xay ở nhà máy cho rằng độc hại, muốn cả nhà xay, giả, khiến bao người phải cực nhọc …Chuyện gia đình 2 lần tản cư tránh giặc Pháp và 2 lần bị giặc Pháp đốt nhà không còn đôi đũa ăn cơm..Chuyện 2 lần tôi suýt chết, lần đó ba tôi bơi xuồng chở tôi đi hái gương sen, gặp máy bay Pháp đi bố phải lũi xuồng núp dưới tàu lá sen trốn mới thoát khỏi bị máy bay bắn chết. Chuyện một lần tôi cãi lời má, tắm mãi ở dưới sông, má gọi hoài không chịu lên, bị rắn nước lai rắn hổ mang cắn, nếu không kịp chở đến thầy thuốc rắn thì chết rồi. Vết thẹo màu xanh thẩm trên bàn tay trái tôi nhiều năm sau vẫn còn. Kỷ niệm thời Ba tôi còn sanh tiền, chuyện bà con, hàng xóm, chuyện thời cuộc, chuyện Việt nam, chuyện Na Uy... kể hoài không hết, 2 mẹ con nói cười không dứt.

Đến trưa, má con tôi cùng nấu món ăn chay. Má tôi ăn chay trường đến khi người mất được 43 năm. Món ăn mà má tôi thích là xôi đậu xanh nước dừa với muối mè đậu phộng.


M á tôi không đẹp nhưng nét mặt rất phúc hậu, dịu dàng, còn lưu lại trong những di ảnh cất trong tủ kiếng, mỗi lần nhìn ảnh tôi không sao tránh khỏi sự bùi ngùi thương tiếc.

Nếu không có biến cố đau thương 30/04/1975 xẩy ra thì tôi đâu phải sống xa má tôi mấy chục năm trường. Tính lại bây giờ tôi vừa qua tuổi lục tuần mà tôi ở bên má tôi chỉ có 26 năm, một thời gian ngắn ngủi so với tuổi đời. Ba tôi mất năm 1973 năm ấy tôi 22 tuổi. Tôi sống trong gia đình cùng một anh, một chị và một em gái. Hai năm sau tôi lập gia đình rời xa má để theo chồng…rồi tôi có đứa con đầu lòng. Thời gian vợ chồng con cái tôi về thăm má tôi mỗi lúc càng ngắn càng thưa dần cho đến một ngày không còn về thăm má nữa là khi chúng tôi đi vượt biên tìm sự sống. Hai mươi sáu năm tứ cô vô thân nơi xứ lạ quê người. Anh chị em mỗi người mỗi ngã, 4 người ở 4 nước khác nhau: Úc, Mỹ, Na Uy và Việt Nam.

Má tôi đã làm một chuyến du hành dài dậm từ Na Uy sang Mỹ thăm chị tôi, sang Úc thăm tôi. Tôi phục má tôi lắm, người là một bà nội trợ xưa nay chỉ quanh quẩn trong gia đình với con cháu, nay dám làm một cuộc hành trình đơn độc xuyên qua mấy quốc gia xa lạ mà vẫn thành công dù không nói được tiếng Anh.

Thời gian má tôi ở Na Uy, anh và chị dâu tôi cũng có đưa má tôi đi du lịch Tây Ban Nha, sang Pháp thăm cậu tôi và sang Canada thăm dì tôi. Có chụp nhiều hình lưu niệm. Đây là thời gian má tôi vui và sức khỏe viên mãn nhất.

K hi má tôi trở về Việt Nam sống. Tôi có về thăm được 2 lần. Lần nào tôi cũng chán chường cuộc sống giả dối, xô bồ ngoài xã hội. Tôi luôn ở cạnh gợi chuyện cho má tôi vui. Cùng suy gẫm chuyện đạo chuyện đời, cùng nghe băng niệm Phật. Tôi cảm nhận sự cô đơn và lo lắng của má tôi, của những người già nua sắp về bên kia thế giới. Nhìn má tôi suy yếu, mõi món như ngọn đèn trước gió không biết tắt lúc nào, tôi vô cùng đau đớn nhưng biết làm sao hơn. Kiếp người trong thế giới luân hồi đau khổ này…Rồi cũng sẽ đến lượt tôi.

Ngàn nụ hôn cho mẹ
(Hình news.zing.vn)
Một tháng trước khi tôi về Việt Nam thì má tôi mất. Hơn 20 năm má tôi đã chờ đợi tôi nhiều lần, giờ chỉ còn 1 tháng sao người không chờ đợi, để tôi được cầm tay má tôi một lần cuối cùng, như những lần 2 mẹ con cầm tay nhau lưu luyến tiễn biệt trên chuyến xe từ nhà ra phi trường mà vẫn hẹn ngày tái ngộ trong nước mắt.

 Nhưng lần này tôi không cầm tay, không còn tái ngộ nữa rồi. Má vĩnh viễn rời xa ”đứa con nhỏ xíu của má“ ngày nào rồi. Bụi tro di cốt của má sẽ tan biến trong cõi Ta bà này nhưng hình ảnh nhân hậu, khả kính của má sẽ còn mãi trong con. Vĩnh biệt má.. Má ơi !



Tôi Nhớ lần cũng vào dịp ”ngày của mẹ“ con trai tôi dù đã gần 20 tuổi, vẫn hay ôm hôn tôi mỗi khi đi đâu về, có hỏi tôi một câu làm tôi nhớ mãi:
-Từ nhỏ đến lớn, má có hôn Bà ngoại không?? Và má hôn Bà ngoại được mấy lần rồi??
Tôi bàng hoàng nhìn con tôi mà không biết trả lời sao. Con trai tôi từ nhỏ đến lớn theo lối sống Tây Phương, đã hôn tôi ngàn vạn lần không đếm xuể. Với con tôi nó hôn mẹ quá dễ dàng. Còn tôi chưa bao giờ hôn má tôi cả. Tôi ngập ngừng trả lời con tôi:

- Người Á Châu, người Việt ít có biểu lộ tình thương cha mẹ bằng nụ hôn, chỉ thể hiện tình thương qua cử chỉ, ánh mắt, qua vòng tay ôm hoặc nắm tay trìu mến thôi con à.
- Nhưng nếu má hôn và nói thương Bà ngoại, con chắc bà ngoại sẽ vui lắm đó!

Tôi biết trả lời với con tôi sao đây. Tôi bùi ngùi nhớ lại mà thương má tôi biết là bao nhiêu

G ia đình anh tôi rồi đến chị tôi vượt biên tìm tự do, má tôi khóc hết nước mắt, người vào ra than thở “Con trai, dâu,cháu ra đi chưa biết tin lành dữ thế nào thì đến con gái đi, đất nước gì mà đến nông nổi phải bỏ của trốn chạy vậy. Con cháu đi hết rồi má sống làm sao nổi”

May là còn có tôi an ủi dần dần má cũng nguôi ngoa. Sau đó nhờ chư Phật gia hộ độ trì, má con tôi nhận tin lành cả gia đình anh tôi và chị tôi được bình yên đến bến bờ tự do. Má con tôi khóc thỏa thuê một lần sau cùng….Rốt cuộc rồi đến vợ chồng con cái tôi. Ngày tôi bỏ nước ra đi quá vội vã để đi tìm sự sống trong cái chết, không kịp một lời từ giã má tôi vì đang ở bên nhà chồng. Má tôi hay tin chắc khóc nhưng nước mắt đâu còn để mà khóc.

Sáu năm sau má tôi rời Việt Nam lên đường để sang sống với anh tôi ở Na Uy, xứ sở giàu lòng bác ái đã cứu vớt gia đình anh tôi giữa lúc nguy ngập trên biển cả trong lúc trốn chạy Cộng sản

Được thư má tôi báo tin đã đoàn tụ với anh tôi, tôi vui mừng ngập tràn suối lệ. Tôi nguyện với lòng sẽ cố gắng dành tiền để sang Na Uy thăm má tôi vì lúc ấy tôi mới định cư ở Úc có 4 năm, gia cảnh còn eo hẹp lắm. Thời gian cứ trôi mãi đến mùa đông năm 2000 tôi mới được sang Na Uy. Má tôi đã già nhiều, da mồi, tóc bạc nhưng trí vẫn còn minh mẫn khi nhắc kỷ niệm xưa. Chị tôi cũng sang Na Uy thăm má tôi trong dịp này. Nhân thể anh tôi làm lễ mừng thượng thọ cho má tôi, năm đó má tôi đã 80.

T rong 4 chị em… tôi là người tương đối gần gũi và hợp tánh ý với má tôi nhất về cả 2 phương diện đạo và đời. Thời gian ở bên má, tôi đếm từng ngày trôi qua. Mỗi từ lịch rơi xuống là sự báo hiệu ngày rời ra má tôi càng gần, làm tôi càng đau đớn, xót xa.

Ngày về lại Úc, nhớ lời con tôi hỏi, tôi ôm sát má tôi vào lòng, hôn lên mái tóc bạc phơ của má tôi mấy cái rồi xách túi hành lý chạy nhanh lên xe ra phi trường... Trên chuyến bay đi về Úc, tôi khóc và cố ngăn cho lệ đừng tuôn ra ngoài, “Má ơi bao giờ con gặp lại má nữa đây“.

Má tôi mất đã 6 năm.. Tôi đã ôm, đã hôn và nói tiếng yêu thương má tôi được mấy lần. Chỉ là nỗi niềm ân hận không nguôi. Sao tôi không làm cử chỉ yêu thương đó cho má tôi được thỏa lòng và vui lắm như lời con tôi nói. Bây giờ đọc những bài viết, nghe những bài hát về Mẹ, hay những ngày lễ Vu Lan được các con chúc mừng, thương yêu, nhất là khi nghe bản nhạc ”Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười" của nhà thơ Trần Trung Đạo tôi không sao cầm được nước mắt.

Tôi bất hạnh không còn mẹ nữa, ”Ngày lễ mẹ“ năm nay, tôi muốn gửi gắm nỗi lòng đến những vị cùng thời tuổi với tôi được may mắn còn mẹ trên dương thế. Xin hãy hôn, hãy nói lời yêu thương, âu yếm với Mẹ.

Đã 6 năm trôi qua, là một Phật tử, tôi chỉ biết theo gương chay tịnh sống hiền lương, đọc kinh, niệm Phật và cầu xin má tôi được về cảnh giới bình an, siêu thoát của chư Phật. Nơi đó không có đau khổ, không có hận thù, không có chia cách và nhất là không có THÁNG TƯ ĐEN.

MINH TÚ

Sunday, March 31, 2013

1 tháng 4, 1975

30 tháng 4 gần tới.
Ngày này qua lâu rồi nhưng dư âm chưa phai mờ.
Blog Việt Luận dự tính đăng một số chuyện,
sưu tập một số tài liệu
xảy ra trong những ngày dẫn đến 30 tháng Tư 1975.

Tháng 4, 1975 là chuyện quá lớn
đối với một cái blog nhỏ bé như blog Việt Luận
nên chúng ta dành các tranh luận về lịch sử và chính trị hay các vấn đề lớn khác
cho một diễn đàn khác.
Nơi đây chỉ xin bà con vết lại vài kỷ niệm
có khi là buồn đau,
mất mát
để thanh thản một chút trong lòng vậy thôi.

Blog Việt Luận kính mời bạn
trả lời vào phần Comments câu hỏi thật nhỏ sau đây:
“Trong tháng Tư năm 1975, bạn ở đâu?”

Og3t kính mời


Thứ Ba, 1 tháng 4, 1975

Qui Nhơn, Tuy Hòa và Nha Trang bị bỏ ngỏ.
Hôm nay, Việt cộng chiếm tỉnh lỵ Tuy Hoà. Tuy Hoà là tỉnh lỵ của Phú Yên. Nơi đây có chừng 350,000 dân.
Sau khi bỏ Cao nguyên, bộ tổng Tham mưu VNCH chọn Nha Trang làm tuyến đầu phòng thủ bằng cách chuyển lữ đoàn 3 Dù về đây. Lữ đoàn 3 Dù lấy lại Khánh Dương, nhưng đến ngày 27.3.1974 Khánh Dương lại rơi khỏi tay VNCH.
Xà lan chật cứng người chạy thoát chiến cuộc
Sang ngày 1.4 75, thành phố Nha trang hổn loạn vì nhà tù bị phá và xảy ra nạn cướp giật công khai. Nha Trang đã bị VNCH bỏ ngõ mà Cộng Sản vẫn chưa tới. VNCH bỏ Nha Trang từ ngày 1.4.75 nhưng mãi đến 3.4.75 Cộng Sản mới vào tới. Dân chúng và binh sỹ VNCH chạy thoát bằng bất cứ phương tiện có thể. Trên những chuyển xà lan chở người tị nạn từ Nha Trang vào Nam đã xảy ra cướp bóc, hãm hiếp. Nên khi xà lan cập vào Vũng Tàu đã có 20 tên cướp bị bắt và xử bắn ngay tại bờ biển.
Chiều 1.4.75, tỉnh trưởng Tuyên Đức kiêm thị trưởng Đà Lại tuyên bố bảo vệ Đà Lại đến cùng. Nhưng đến 7 giờ rưỡi tối cùng ngày, ông ra lệnh di tản. Đoàn người di tản theo quốc lộ 11 về Phan Rang, rồi vào Phan Thiết.
Cùng ngày, thủy quân lục chiến Hoa Kỳ bắt đầu cuộc hành quân mang tên Operation Eagle Pull để di tản nhân viên tòa đại sứ Mỹ ra khỏi Phnom Penh.

Og3t

Chung quanh ngày 30 tháng Tư năm 1975



30

tháng 4 gần tới.
Ngày này qua lâu rồi nhưng dư âm chưa phai mờ.


Blog Việt Luận dự tính đăng một số chuyện, sưu tập một số tài liệu xảy ra trong những ngày dẫn đến 30 tháng Tư 1975.
Ngày này làm cho triệu người buồn (nhưng cũng có triệu người vui). Người thì gọi ngày này tàn cuộc chiến, người thì gọi là Quốc Hận, đứt bóng, đứt phim...Phe bên này hay phe bên kia đều có những tên riêng cho ngày ngày 30 tháng Tư, 1975. 
Mới đây có hai cuốn sách của hai ông Huy... Huy Đức viết “Bên Thắng Cuộc”. Huy Phương viết “Những người thua trận”.

Tác giả “Bên thắng cuộc” ghi rõ: “Cuốn sách của tôi bắt đầu từ ngày 30-4-1975 - ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc”. (Mấy lời của tác giả p. xiii).
Táv giả “Những người thua trận” kể lại điều mắt thấy tai nghe trong "nửa đời sau" của mình. Đây là sưu tập nhiều tạp văn của một người thua trận đang sống tại Hoa kỳ. Trong tạp văn mang cùng tên của cuốn sách và in ở đầu sưu tập này, tác giả so sánh chuyện tháng Tư năm 1865 tại Hoa kỳ với tháng Tư năm 1975 tại Việt Nam. 
Tháng Tư, 1865 miền Nam của Hoa kỳ thua trận. Ông tướng “bên thắng cuộc” miền Bắc đã nói “Những người miền Nam bây giờ là đồng bào của chúng ta, và chúng ta không nên có thái độ đắc chí trên sự suy sụp của họ”.
Tháng Tư, 1975 miền Nam của Việt Nam thua trận. Huy Phương kể theo lời k‎ý giả Úc David Butler có mặt trong dinh Độc lập vào sáng 30.4.1975: hai bộ đội ôm súng vừa chạy vào dinh vừa quát to “Ai là Dương Văn Minh? Dương Văn Minh hãy bước ra và quì xuống”. (p. 3-9)

***
Chuyện do hai ông Huy kể ở trên là một phần trong lịch sử của tháng Tư ở Mỹ và ở Việt Nam. Cả hai tháng Tư ấy là chuyện quá lớn đối với một cái blog nhỏ bé như blog Việt Luận nên chúng ta dành các tranh luận về lịch sử và chính trị hay các vấn đề lớn khác cho một diễn đàn khác. 
Nơi đây chỉ xin bà con vết lại vài kỷ niệm có khi là buồn đau, mất mát để thanh thản một chút trong lòng vậy thôi.

Để bắt đầu chuyện nhỏ của chúng ta, Blog Việt Luận kính mời bạn trả lời vào phần Comments câu hỏi thật nhỏ sau đây:
“Trong tháng Tư năm 1975, bạn ở đâu?”

Og3t kính mời

Ghi chú:
Bên thắng cuộc, Oshinbook, Saigon -Boston - Los Angeles - New York, 2012
Những người thua trận, Nam Việt, Irvin, California, 2012

Sunday, February 3, 2013

Trường tôi



Kim Nguyễn
Trong cuộc đời chúng ta ai ai cũng có quá nhiều kỷ niệm: vui có, buồn có. Kỷ niệm là chiếc gối êm cho tuổi già. Thí dụ như những buổi chiều mưa lạnh, những buổi sáng đìu hiu, bên tách trà nóng mà nghe giọng hát Thái Thanh với nhạc phẩm Kỷ Niệm của Phạm Duy sẽ thấy lòng chùng xuống hắt hiu.


Hai nữ sinh Trưng Vương
cưỡi voi diễn hành trong ngày lễ Hai Bà Trưng tại Sài Gòn
Tôi vẫn nhớ như in những ngày tháng còn cắp sách đến trường nữ trung học Trưng Vương. Ngôi trường cổ kính nằm cuối con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Thuở ấy, bất cứ cô nữ sinh áo trắng nào có đeo phù hiệu Trưng Vương đều thấy thật hãnh diện. Hãnh diện bởi muốn vào học ở trường này thì phải vượt qua kỳ thi tuyển vào đệ thất (lớp 7). Cuộc thi rất khó vì phải vượt qua mấy ngàn sĩ tử. Qua được kỳ thi khó khăn đó để có tên trên bảng vàng thì ai mà không tự hào là nữ sinh của trường trung học Trưng Vương cơ chứ?

Nơi đây đối với tôi có quá nhiều những điều không thể quên được gồm có bạn bè và thầy cô. Quên được làm sao hình ảnh thầy Hoàng dạy môn Anh Văn, là môn mà tôi chúa ghét (vì tôi quá dở). Trong năm đệ nhị (lớp 11 bây giờ) Thầy đã điểm mặt tôi, "Học như em thì làm sao mà thi đậu năm nay? Em mà đậu năm nay tôi sẽ không dạy nữa".
Năm ấy tôi thi đậu. Vào đầu năm lớp 12 gặp thầy tôi nhoẻn miệng cười: "Thưa thầy, em đậu rồi ạ", tuyệt nhiên không nhắc đến lời thầy đã nói trước.

Trường tôi nằm cuối con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bên phải của trường là cuối đường và được chận lại bằng một hàng rào kẽm gai dày đặc. Bên kia hàng rào là căn cứ Hải Quân. Bên trái là trường Võ Trường Toản. Chúng tôi thường chọc ghẹo là "Vỏ Trứng Thối". Còn các bạn nam sinh thì phản pháo lại: "Trứng Vịt".

Hai ngôi trường một nam một nữ chỉ cách nhau một bức tường. Mỗi thứ Hai chào cờ chúng tôi đều được bà Tổng Giám Thị nhắc nhở những kỷ luật của trường bằng micro phone:
- Con gái phải đứng đắn đoan trang. Mặc áo dài phải mặc áo lót. Áo đầm phải dài quá gối. Không được nói chuyện với bạn trai trước cổng trường vv...vv....
Còn nhiều,nhiều lắm. Và những điều này các nam sinh VTT đã nghe rõ mồn một.
Các anh VTT gặp chúng tôi thường cười đểu:
- Nhớ mặc áo lót nghen mấy em. Kẻo gió vào đau bụng!

Tan học, trước cổng trường nào là phụ huynh đến đón, nào là bồ của các cô lớp 11,12 thuộc đủ mọi binh chủng, nào là các nam sinh của các trường Chu Văn An, Petrus Ký, Cao Thắng, Nguyễn Trường Tộ kéo đến đứng đầy trước cổng trường. Như một ngày chẫy hội.

***
Một điều như luật bất thành văn là các nam sinh của Cao Thắng và Nguyễn Trường Tộ đều không thích nhau. Họ luôn gườm nhau chỉ chờ có dịp là "đấu võ".

Có một kỷ niệm không bao giờ quên trong năm học 11 của tôi. Hôm ấy sau khi tan học, chúng tôi ngồi lại tán gẫu, ăn bò bía, uống đậu đỏ bánh lọt nước dừa cùng bạn bè chán chê rồi mới lên xe đi về. Năm ấy tôi được ba mua cho chiếc PC, oai nhất trong đám bạn bè, vì đứa nào cũng đạp xe đạp đi học. Bạn bè có đãi tôi ăn bò bía cũng để chỉ được leo lên xe chạy một vòng.

Đột nhiên, hôm ấy chiếc xe dở chứng không chịu nổ máy. Chúng tôi thay nhau cố sức leo lên xe đạp đến đổ mồ hôi mà xe vẫn không nổ máy. Một anh bên Cao Thắng đang đứng tán gẫu cùng vài người bạn VTT bên kia đường thấy vậy chạy qua hỏi:
- Các em có cần giúp gì không?
A tên này giỏi lắm cũng chỉ là 11,12 mà dám gọi bọn này là em. Nhưng không sao mình đang cần mà:
- Xe không nổ máy, anh bạn có thể giúp gì không?
- À, nghề của chàng mà! Dân cơ khí không biết thì ai biết?
Thế là hắn loay hoay với chiếc xe. Một chàng Nguyễn Trường Tộ trong bộ đồ xanh chạy đến:
- Có cần giúp một tay không?
- Không cần. Tôi nghĩ Cao Thắng dư sức rồi.
Loay hoay cả tiếng đồng hồ, chiều đã tắt nắng, mọi người đã từ từ về nhà, cửa trường vắng ngắt, tôi lo lắng không ít, vì ruột gan phèo phổi của chiếc xe đã được gã Cao Thắng moi ra để đầy trên mặt đường. Anh chàng Nguyễn Trường Tộ vỗ vai hắn:
- Ráng lấy điểm với người đẹp đi nha. Tui dìa. Chúc may mắn.
Sau một hồi loay hoay, chàng Cao Thắng tuyên bố:
- Không kiếm được bịnh. Cô ở đây tui chạy đi kiếm người giúp nghen.

Chẳng còn cách nào hơn, tôi đành gật đầu.
Nhưng chờ mãi gần 7 giờ tối cũng không thấy hắn trở lại. Tôi vô cùng lo lắng đẩy xe vào trường gặp ông Hoàng Tử Chột (biệt danh của ông gác dan), gởi chiếc xe ở trường và gọi điện thoại cho ba đến đón về.

Sáng hôm sau tôi kể lại cho bạn bè nghe, đứa nào cũng nói gã Cao Thắng đó họ Sở. Hắn không gạt tình nhưng hắn lại đánh bài chuồn thì có khác gì. Từ đó chúng tôi ai cũng ghét các chàng Cao Thắng. ú mất hẳn niềm tin và thề nếu không rửa mối hận này thì không phải là con cháu Hai Bà.

***
Thời gian trôi qua, thù vẫn còn trong bụng nhưng chưa có dịp để trả. Thế nhưng ngày ấy cũng tới. 
Một hôm tan học, một nhóm nam sinh trong đồng phục Cao Thắng, một xe một chàng hoặc một xe hai chàng chạy đến cuối trường đứng đó. Họ chỉ chỏ nói cười. Chúng tôi rủ nhau mỗi đứa leo lên xe của mình giăng thành hàng ngang hiên ngang ngồi trên xe ăn bò bía. Lát sau các chàng ra về nhưng gặp phải chướng ngại vật là chúng tôi. Các chàng năn nỉ:
- Cho tụi anh qua được không mấy em?
Một cô bạn nhanh nhẩu:
- Gọi bằng chị thì may ra.
Các anh nhìn nhau:
- Xin các chị, cho tụi này qua.
- Phải xưng em mới đúng chữ nghĩa chớ.
- Xin các chị, cho chúng em qua.
- Mỗi em muốn qua phải mua một ly đá nhận cho các chị mới được qua.
Thế là hôm đó hàng bán đá nhận trúng mối nhờ món quà mãi lộ đó.
Chúng tôi được một dịp cười bò lăng bò càng và mỗi lần thấy bóng dáng Cao Thắng là cả bọn lại nhao nhao:
- Chị Hai nè em. Lại đây chị bảo. Cho vài cái khăn hỷ mũi nè.

***
Thời gian trôi qua thấm thoát mà đã mấy chục năm. Bạn bè mỗi người mỗi ngã. Tôi thường tìm kiếm những người bạn đã cùng tôi lớn lên trong ngôi trường yêu dấu đó. Trớ trêu sao! Một cô bạn thân của tôi, sau 75 lại là người bạn đồng hành với tên họ Sở ngày nào. Chúng tôi gặp nhau tay bắt mặt mừng, hàn huyên thăm hỏi, tôi hỏi Thức (chồng cô bạn):
- Sao hôm ấy anh đi tìm người giúp rồi mất tiêu luôn vậy?
Thức cười:
- Có gì đâu. Chạy kiếm người tới kéo xe cho cô không được mà thấy tối quá rồi nên....lặn luôn. Hì hì hì.
Thật không có nụ cười nào....nham nhở hơn nụ cười của Thức lúc ấy. Nhưng nhờ vậy tôi có thêm một chiếc gối êm ả trong những ngày cuối đời hạnh phúc này.

Kim Nguyễn

Trường tôi



Kim Nguyễn
Trong cuộc đời chúng ta ai ai cũng có quá nhiều kỷ niệm: vui có, buồn có. Kỷ niệm là chiếc gối êm cho tuổi già. Thí dụ như những buổi chiều mưa lạnh, những buổi sáng đìu hiu, bên tách trà nóng mà nghe giọng hát Thái Thanh với nhạc phẩm Kỷ Niệm của Phạm Duy sẽ thấy lòng chùng xuống hắt hiu.

Saturday, December 1, 2012

Cho một người nằm xuống


Khi câu thơ
đăng trên trang blog này thì có một nữ nhi cũng ... "chạnh lòng".
Bất ngờ, người anh hùng không tên tuổi ấy chính là "cố nhân" của một người tình cờ tạt vào trang blog nhỏ bé này.
Thơ "Nhớ bạn" thổi tung tro tàn kỷ niệm thành cơn xúc động bừng bừng.
Kỷ niệm này là...
.... Năm xưa, có bốn chàng trai áo trận: mỗi chàng  "cua"  một em gái hậu phương để lượn lờ bát phố khi về hậu cứ.
Một trong bốn chàng ấy đã gởi thân tại Hạ Lào.

 Một trong bốn cô gái ấy là người viết lên cõi lòng qua câu chuyện tình thời chiến dưới đây.
Blog Việt Luận
***


Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn dấu trong tim một bóng người.

Huệ đưa quyển lưu bút của nàng cho Minh: 
- Đây là con bé em muốn giới thiệu cho anh Thân, các anh coi thế nào? Nếu đồng ý thì em hẹn nó gặp mặt. Con bé này khá khó tính. Không chắc có hẹn được nó không nữa.

Minh nhìn hình nàng dán trong lưu bút của Huệ thì thấy nàng đẹp lắm: mái tóc dài xõa ngang vai với nụ cười làm say đắm lòng kẻ chinh nhân.

Buổi chiều hẹn nhau ra quán "Lú":  ai nấy đều có mặt đông đủ, Thân, Minh, Dũng, Phúc cùng hai cô bé Trưng Vương ngồi chuyện gẫu đợi Huệ và nàng đến. Khoảng 10 phút sau cả hai có mặt.  Lần đầu gặp nàng Thân đã xao xuyến. Chàng nguyện với lòng nhất định sẽ chiến thắng trên tình trường như chưa bao giờ thất bại trên chiến trường.
Thế rồi họ yêu nhau.
Mỗi lần hành quân, nàng chờ đợi từng cánh thư ấp ủ yêu thương của chàng. Có hôm vừa mở thư ra nàng hết hồn xanh mặt: chàng gửi cho nàng một chiếc khăn quàng cổ của TQLC có vấy máu quân thù. 
Nàng luôn luôn chờ đợi trong mỏi mòn. Thư đến chậm là nàng lo muốn khóc. Nàng cứ thì thầm: "Anh phải bình yên trở về, Thân ơi!".

Có ngày đơn vị chàng về  thành phố, chàng không thể về gặp nàng vì phải đóng binh ở hậu cứ. Huệ và đám bạn rủ nàng lên Thủ Đức thăm. Nàng thoáng chút ngại ngần vì các nàng với tà áo trắng lạc lỏng bên cạnh hàng ngàn tấm áo lính bạc màu. Nhưng rồi tình yêu thôi thúc, nàng cũng mong gặp chàng.
Bốn cô gái gọi điện thoại cho  bốn chàng ra đón (nhưng lần nào Thân cũng vẫn là anh chàng nhanh chân nhất). Từ  cổng hậu cứ vào đến cantine là con đường nắng gắt. Thân luôn miệng xuýt xoa:
-        Em có mệt không? Em nghỉ ở đây anh chạy vào lấy xe Jeep ra chở cho nhanh?
-        Không. Không cần đâu, đi bộ bên anh em thích hơn.
Huệ và bạn bè cười chọc nàng:
-        Vậy anh Thân đưa nó vô đi, tụi em chờ anh đem xe ra rước.
Nàng la lên:
-        Ê, tụi bây bỏ tao đi một mình hả?
-        Có Trâu Điên bên cạnh mà sợ gì? Ai ăn thịt mà sợ?
Thỉnh thoảng vài chú lính dơ tay chào và không quên buông lời chọc ghẹo:
-        Trung úy, chừng nào cho tụi em ăn bánh uống trà?
Nàng thật là xấu hổ tự dặn lòng lần sau không thèm lên đây nữa.

Thế rồi, ngày này sang ngày khác....
Cứ sau mỗi cuộc hành quân trở về tình yêu của họ càng gần nhau hơn.

Đôi lần Thân ngỏ lời ướm thử nếu nàng thuận làm vợ chàng. Nàng thẹn thùng:
-        Có sớm quá không anh? Em phải học xong đại học thì ba mới cho đi lấy chồng.
-        Vậy anh phải chờ 4, 5 năm sao? Biết lúc đó anh còn sống không?
Nàng bịt miệng chàng:
-        Đối mặt với súng đạn mỗi ngày mà nói gỡ không hà!
-        Nhưng anh thật sự không yên tâm khi có cô bồ duyên dáng như em mà bỏ lại hậu cứ sợ mấy thằng văn phòng nó phỏng tay trên mất thì sao?
-        Anh không tin vào tình yêu của mình và tin chính  anh sao?
Chàng trả lời thẳng thắn:
-        Sống trong thời chiến chinh, sao anh có thể tin được ngày mai hở cô bé?
Nàng ái ngại cho chàng nhưng biết làm sao hơn. Nàng cũng còn quá nhỏ. Còn một năm nữa nàng mới bắt đầu vào đại học. Con đường trước mặt còn thăm thẳm.
Thân đề nghị:
- Hay anh đưa em về ra mắt mẹ anh? Em cũng đưa anh đến gặp gia đình em?

Nàng ngần ngại vì ba của nàng rất khó. Ông cho rằng nàng còn quá nhỏ. Hơn nữa, ông cho rằng: thanh niên thời chiến  anh nào cũng dán chữ Tử sau lưng. Cho con gái lập gia đình chẳng bao lâu e rằng sớm  trở thành góa phụ. Nàng không nghĩ như ba, Nhưng nàng hy vọng tình yêu giữa nàng và chàng sẽ kéo dài với sự đồng ý của hai gia đình cho đến khi nàng học xong đại học.

***

Ngày đến gặp mẹ Thân, nàng hồi hộp lắm. Theo Thân cho  biết thì mẹ chàng là tuýp người Bắc ăn trầu răng nhuộm. Bà cụ rất Hà Nội cổ kính. Điều này làm nàng cũng có hơi e dè. Nhưng yêu Thân, nàng không ngại. Thôi thì tới đâu hay tới đó. 
Sau màn giới thiệu của Thân, mẹ Thân nhìn nàng hơi có vẻ khó chịu. Nàng cúi đầu vân vê chéo áo, nghe rõ tim mình đang đánh trống liên thành. Một lúc, bà cụ lên tiếng:
-        Cô ngồi chơi xơi nước, tôi xin phép vào trong.
-        Vâng, cháu chào bác ạ.
Bà cụ khuất bóng. Thân cũng vào pha nước mời nàng và sẵn hỏi ý mẹ. Nàng nghe loáng thoáng tiếng mẹ Thân:
- Nó là con nhà ai mà ăn mặc như mấy con gái đứng đường ngoài ngõ vậy?
Nàng hết sức kinh ngạc. Nàng mặc quần Jean ống rộng, áo thun bó sát người có vẽ hình cánh hoa Hippy (phong trào bấy giờ), đeo cặp kính mát to, như vậy là lố lăng sao? 
Thân lên tiếng binh vực nàng:
-        Ấy cụ nói khẽ chứ. Cô ấy có ăn mặc gì gọi là quá lố đâu. Thời trang bây giờ đấy. Bố cô ấy là sĩ quan cao cấp trong quân đội đấy cụ ạ. Cụ nói khẽ cho con nhờ.

Nàng bỏ mặc cho hai mẹ con tranh luận. Lặng lẽ ra xe đi về. Lòng chĩu nặng ưu tư. Giữa nàng và Thân đã có một bức tường khá dày ngăn cách. Tình yêu của nàng có lẽ chưa đủ lớn để vượt qua bức tường ấy.

***

Về đến nhà, nằm trên giường mặc cho hai giòng nước mắt thấm ướt gối, nàng quyết định quên Thân đi. Dù rất yêu chàng, nhưng lòng tự ái của nàng bị tổn thương. Theo đuổi cuộc tình này rồi sẽ đi tới đâu? 
Nàng suy đi nghĩ lại...
Mẹ chàng đã đánh giá nàng thấp kém như vậy,nếu lỡ làm dâu bà khi chàng đi hành quân nàng sẽ ra sao? Nàng sợ hãi lắm. Nếu tiếp tục, nàng sẽ rất đau khổ. Điều này  ảnh hưởng việc học của nàng. Vả lại năm nay là năm thi tú tài toàn phần... Thế là nàng tự nhủ: Không...nhất định phải quên chàng đi.

***

Còn Thân. 
Thân nhiều lần chờ đợi nàng ở cổng trường. Nhưng nàng lặng lẽ đi cửa khác mà về.
 Huệ nhiều lần đến nhà rủ nàng đi uống cà phê nhưng nàng biết là do Thân muốn gặp nàng nên  viện cớ bận học mà từ chối.

***

Thế là cả hai xa nhau đã tròn năm tháng. Một buổi chiều, nàng đang ngồi ôn bài thi thì Huệ đến. Nước mắt chảy dài, Huệ thổn thức:
-        Anh Thân chết rồi.
Nàng sững sờ:
-        Hả, mày nói sao? Không đùa với tao đấy chứ?
-        Không đùađâu. Anh ấy chết thật rồi., Đi với tao đến nhà anh ấy ngay bây giờ. Bạn bè đang chờ ở đó,
Nàng muốn khụy xuống, muốn khóc. Nhưng thật lạ đôi mắt ráo hoảnh. Lặng lẽ thay quần áo, nàng lẩm bẩm:
-        Tụi bây chỉ đùa thôi. Tụi bây chỉ gạt tao để tao gặp anh ấy thôi.

Đến nhà Thân, mọi người đứng đầy nhà, đủ mặt bạn bè, nàng co ro một góc. Anh nằm đó phủ lá cờ vàng. Đôi mắt anh nửa như yêu thương nửa như oán trách. Nàng lặng lẽ khóc: "Anh hãy đứng dậy mà bảo vệ cho em. Bạn bè đang trách móc em. Hà hiếp em của anh đây. "
Anh Phúc và bạn bè ôm nàng an ủi. Mẹ chàng nhìn nàng, bà tiến đến nàng gần hơn và nói trong nước mắt:
-        Cô là bạn của thằng Thân có phải không? Nó giận tôi đi tìm cái chết đấy cô ạ.
Nàng ôm bà cụ:
-        Cháu xin lỗi bác, cháu xin lỗi bác.Cháu ngàn lần xin lỗi bác.

***

Tượng người lính trấn giữ
 ở lối vào Nghĩa Trang Quân Đội, Biên Hoà
Ngày đưa Thân đến nơi an nghỉ cuối cùng lòng nàng buồn rười rượi. 
Từ nay chúng ta vĩnh viễn không bao giờ gặp lại nhau. 
Nàng nguyện với lòng sẽ để tang cho chàng đúng ba năm 
như một người vợ để tang cho chồng.

Vì thế, suốt thời gian học đại học cho dù  có nhiều người buông lời ong bướm, nhưng nàng khóa chặt tâm hồn để hết tâm trí học hành. Mỗi tuần, đều đặn nàng đem hoa đến bên mộ chàng và thì thầm cùng chàng: 
"Em sẽ chôn anh
 trong tận cùng 
sâu thẳm của tim em. 
Mong anh yên nghỉ 
và cho em 
một lời tha thứ.
 Em yêu anh và sẽ chẳng bao giờ quên anh đâu, 
Thân ơi................"

***

Từ nay, trên chặng đường còn lại nàng luôn nhủ lòng sẽ không bao giờ làm điều gì mà không suy nghĩ kỹ; sẽ chẳng khi nào nói..." giá như...biết vậy...nếu như...phải chi...". Một lần suy nghĩ vụng về sẽ chẳng có cơ hội để đền bù những mất mát mà mình phải gánh chịu.
Ngủ yên anh nhé...

Nàng