Showing posts with label Văn nghệ. Show all posts
Showing posts with label Văn nghệ. Show all posts

Tuesday, March 4, 2014

Từ phong bì đến diễn văn cám ơn



Og3t ::

Khi trao giải Oscar, hồi hộp nhất là lúc xướng ngôn viên rút phong bì ra. Trịnh trọng cầm trong tay. Chậm chạp mở phong bì. Rút tờ giấy bên trong. Thủng thẳng đọc...


Phong bì nào măt ngoài cũng màu vàng đậm, mặt trong cũng đỏ thẫm. Xem chừng làm bằng giấy cứng. Còn tờ giấy bên trong trịnh trọng như tấm cạc. Màu sáng hơn phong bì. Tấm giấy nào cũng ghi chữ "And the Oscar goes to... "

Trước đây, phong bì này để mở. Sau năm 1944, dán kín. Lý do là năm đó báo The Los Angeles Times biết trước ai thắng nên trước đêm Oscar lần thứ 13 đã đăng nguyên con danh sách lên báo. (Số 13 thật xui!)

Năm nay công ty Marc Friedland được trao nhiệm vụ làm phong bì. Nhân viên của Marc Friedland phải làm sẵn ba bộ phong bì. Tất cả phong bì và tấm cạc đều được làm bằng tay. Phí tổn mỗi phong bì là $200 Mỹ Kim.

Có 24 giải thưởng Oscar thì làm 72 phong bì. Ngoài ra còn thêm 121 tài tử minh tinh được đề cử thì làm 362 phong bì. Riêng công ty kế toán PricewaterhouseCoopers lãnh nhiệm vụ lập danh sách người được đề cử và được lãnh thưởng. PricewaterhouseCoopers lo luôn phần đặt tờ giấy ghi tên tài tử vào từng phong bì. PricewaterhouseCoopers phải cẩn thận không những không được cắm râu ông nọ vào cằm bà kia và còn phải giữ tuyệt đối bí mật. Hình như đã có chuyện nhét lộn tờ giấy này vào phong bì kia thì phải?

Năm nay khi chiếc phong bì đáng giá $200 Mỹ Kim có ghi chữ “giải thưởng dành cho diễn viên phụ xuất sắc nhất” được mở ra, danh tính tài tử Jared Leto được xướng lên. Jared Leto được thưởng nhờ đóng vai một người đổi giống bị AIDS trong phim Dallas Buyers Club.
Nhận tượng vàng Oscar, Jared Leto đã nói lời cám ơn được coi là hay nhất trong đêm (nếu không nói là hay nhất từ xưa đến nay).


Nguyên văn:
Incredible. Ellen, I love you. To my fellow nominees, I’m so proud to share this journey with you. I’m in awe and have so much respect for you all. To the Academy, thank you. In 1971, Bossier City, Louisiana, there was a teenage girl who was pregnant with her second child. She was a high school dropout and a single mom, but somehow she managed to make a better life for herself and her children. She encouraged her kids to be creative, to work hard and to do something special. That girl is my mother and she’s here tonight. And I just want to say, I love you, Mom. Thank you for teaching me to dream. To my brother, Shannon, the best big brother in the world, you’re a true artist. Thank you so much for sharing this insane and amazing adventure that is 30 Seconds to Mars, and for being my best friend. I love you. Thank you.
Xin dịch bậy như sau:

Không ngờ.
Ellen, tôi yêu cô. 

Thưa các bạn cùng được đề cử như tôi, tôi hãnh diện đi cùng một lối với các bạn. Tôi vừa ngỡ ngàng lãnh thưởng vừa kính trọng các bạn. 

Thưa Viện Điện Ảnh, tôi xin cảm ơn. 

Vào năm 1971, tại Bossier City, tiểu bang Louisiana, có một cô bé tuổi mười mí mà mang thai lần thứ nhì. Cô ta bỏ học và không chồng mà chửa, nhưng cô ta tìm cách cho mình và con mình tiến thân. Cô khuyến khích con có sáng kiến, siêng năng làm việc và làm điều gì đó cho đặc biệt. Cô gái ấy là mẹ đẻ tôi và mẹ đang có mặt ở đây. Thưa mẹ, con xin nói lên lời “con yêu mẹ”. Cám ơn mẹ dạy con biết mơ. 

Thưa anh Shannon, 
Anh là người anh tuyệt nhất thế giới. Anh quả là một nghệ sỹ thực danh. Cảm ơn anh cùng phiêu lưu với em trong chuyến đi 30 phút lên sao Hoả. Cám ơn anh luôn luôn thân thiết với em. Cám ơn. 

Thưa các người đang mơ ở khắp thế giới và đang theo dõi lễ phát thưởng này từ những chốn như Ukraine và Venezuela. 
Tôi muốn khẳng định: những người có mặt ở đây đang nghĩ đến các bạn. Các bạn đang tranh đấu để ước mơ của mình thành sự thật, để sống điều không thể... 

Và tượng vàng này thật đặc biệt đến độ không thể tin được vì quá nhiều người giúp tôi đến chỗ này. 
Tôi xin cám ơn Focus Features, Mick Sullivan, Jim Toth, Jason Weinberg, Emma Ludbrook, Kelly Adams và toàn thể các bạn trong Dallas Buyers Club. Matthew, tôi yêu bạn. Jean-Marc. 
Tượng vàng này thuộc về 36 triệu người đã thua trong trận chiến với AIDS và cũng thuộc về những người ở khắp nơi bị bất công chỉ vì mình là người này người kia hay mình yêu người này người kia. 
Đêm nay, tôi đứng đây trước toàn thế giới: cùng với các bạn và về phe các bạn.  Cám ơn nhiều lắm và xin chào. Og3t
Muốn gởi bài này cho bạn bè,
xin bấm mouse chọn
Twitter, email, Facebook hay Google+ 
ở lề bên trái.

Monday, March 3, 2014

Ba điều bốn chuyện trong đêm Oscar 2014



Og3t ::



Hình tự chụp trong đêm Oscar 2014
được hót lại nhiều nhất tại Twitter




N hắc đi nhắc lại nhiều nhất từ Oscar năm nay là tấm hình tự chụp của xướng ngôn viên Ellen DeGeneres. Hình này được hót lên mạng xã hội Twitter và ngay lập tức thiên hạ tiếp tục chuyền cho nhau. Chữ Anh là “re-Twitter”. Og3t dịch bậy thành “hót lại”. Chưa tới 24 tiếng đồng hồ, hình này đã được hót lại còn nhiều lần hơn hình tổng thống Obama ôm vợ Michelle. Tấm hình của vợ chồng Obama được 780,000 lần “hót lại”. Đã là quán quân rồi đó.

Sáng sớm thứ Ba 4.3.14 tại Úc, og3t đã thấy ở Twitter hình tự chụp của Ellen DeGeneres được 2.7 triệu lần “hót lại” và hơn 1.4 triệu người bấm ngón tay vào nút “favorite”. Nếu bây giờ bạn đọc tạt vào Twitter chắc chắc thấy hai con số ấy đã bị qua mặt mấy trăm ngàn cái vù rồi đó.

Thật ra, đây không phải hình do Ellen DeGeneres tự chụp mà Bradley Cooper chính là người cầm máy. Hình cũng không tự chụp mình ên Bradley Cooper mà chụp một loạt 12 minh tinh tài tử nổi danh: Jared Leto, Jennifer Lawrence, Meryl Streep, Ellen DeGeneres,, Peter Nyong'o Jr., Channing Tatum, Julia Roberts, Kevin Spacey, Brad Pitt, Lupita Nyong'o, Angelina Jolie và chính Bradley Cooper. Khi Bradley Cooper bấm máy thì ca sỹ Liza Minnelli từ phía sau chạy lại vì cũng muốn chìa mặt trong hình. Nhưng máy đã bấm. Đành tiếc hùi hụi.

Người chuyên môn lang thang trên mạng gọi đây là tấm hình “siêu tự chụp, super selfie” và gán cho Ellen DeGeneres vì Ellen DeGeneres tung lên Twitter. Nguyên thuỷ, bên dưới tấm hình này ghi thêm "via Twitter for iPhone, gởi qua Twitter và dùng máy iPhone". Nhưng ai xui khiến gì đó, sau này mấy chữ ấy sửa lại thành “via Twitter for Android, gởi qua Twitter và dùng máy Android ".

Sao lại có chuyện thay đổi như rứa?

Xin thưa trong đời thường Ellen DeGeneres dùng máy iPhone nhưng công ty bảo trợ cho Oscar lại là Samsung! Đơn giản có thế.

Từ đó tuôn chảy thêm biết bao lời bàn ra tán vào. Xem chừng minh tinh tài tử không tự chụp đâu. Họ đóng phim đó. Phim này quảng cáo đã ghi trong hợp đồng với Samsung trước khi màn của rạp Dolby kéo lên lận kìa. (Thiên hạ cũng nghi tiệm Pizza nào đó cũng đã ký hợp đồng với Ellen DeGeneres?)

Mà Samsung đáng được quảng cáo tuyện chiêu như thế này lắm lắm. Lý do là Samsung đã chi $24 triệu Mỹ Kim tài trợ cho đêm Oascar 2014.

Đêm này còn nhiều chuyện để nói lắm. Og3t mời bạn đọc thấy gì hay hay trong đêm này thì viết vài hàng trong comments cho blog Việt Luận thêm phần “ hồi dương liệt lão” (chữ của dxt. melbourne, à nghe).
Og3t
Muốn gởi bài này cho bạn bè,
xin bấm mouse chọn
Twitter, email, Facebook hay Google+ 
ở lề bên trái.



Sunday, December 22, 2013

Một Chút Quà Cho Quê Hương!


Việt Dzũng
(Hình do Dan Huynh chụp tháng 10 năm 2011)




đoàn xuân thu.

Những năm 80, người đi thì đi rồi…người chưa đi vẫn tiếp tục… trốn ra đi nếu có vàng đóng cho chủ tàu. Còn đa số dân nghèo chạy ăn từng bữa thì ở lại chịu trận!

Vật chất đói thì khỏi nói rồi; tinh thần thì còn khổ hơn. Không được nói, thấy được thì nhìn… rồi để đó! Cấm nói tùm lum mà trở thành ‘phản động’?!

Nhạc thì ra rả Quốc Hương! Già xấu thấy tội nghiệp luôn! Già cúp bình thiếc! Gần 5, 6 chục tuổi rồi… mà lên đài truyền hình ‘cưa sừng làm nghé’…đội nón tai bèo, mang súng AK… hát Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây!
“Đường ra trận mùa nầy đẹp lắm?”


Giỡn chơi hoài ‘cha nội’! Ra trận là đánh nhau! Là có chết chóc, có thương vong dù ở bên nào đi chăng nữa! Tui hỏng tin! Đi bắn nhau ‘ì ì’ chớ đâu phải đi ‘picnic’ đâu… mà rảnh rỗi Trường Sơn Tây nhớ ‘o’ Trường Sơn Đông đây ‘cha nội’?

Mà bữa nào truyền hình cũng có mặt ‘ổng’ hết trơn. Chán như ‘cơm nếp nát!’. Bà con mình muốn ổng đừng lên ‘truyền hình’ nữa mà ‘tàng hình’ luôn cho ‘phẻ’ con mắt và ‘phẻ’ cái lỗ tai!
Đó là về tinh thần! Còn về vật chất thì đói xanh như tàu lá chuối! Nhà nào có con chạy được vài năm trước, giờ nó gởi về cho một thùng ‘quà’ chừng hai, ba chục ‘pounds’ là mừng như trúng số!

Người viết không có anh em nào chạy được vì lẽ là nhà nghèo…hỏng có vàng…vậy thôi! Nên đành ‘ké’ mấy thằng bạn nhậu khác… có anh em thơm thảo gởi về tí chút, ‘an ủi’ chiều cuối năm. Tụi nó đem thuốc tây hay vải vóc ra chợ bán được một mớ rồi ‘hú’ người viết: “Ê! chiều xuống quán Tám Lư ở đường Trần Hưng Đạo mà uống bia hơi nhe!”

Quán nhậu chiều cuối năm cũng rôm rả lắm! Đa số uống rượu thuốc là rượu đế (gạo hay nếp) pha màu cho nó dễ ‘ực’. Ai trúng mánh như bàn nhậu của người viết và mấy thằng bạn thì mới dám uống bia hơi!

Đầu hôm, thằng con của chủ quán ham vui, vác cái đàn ghi ta ra nhập bọn… đờn ‘tửng từng tưng’, chơi nhạc ‘cách mạng’ Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây do Hoàng Hiệp phổ thơ Phạm Tiến Duật.

Nửa khuya, thiên hạ tan hàng, về nhà hết ráo, quán gần dẹp, nó ra kéo cửa lại! Ở trong, còn bàn nhậu duy nhứt của người viết vẫn chưa tàn; nó chơi bản “Một chút quà cho quê hương”
Em gởi về cho anh dăm bao thuốc lá
Anh đốt cuộc đời cháy mòn trên ngón tay
Gởi về cho mẹ dăm chiếc kim may
Mẹ may hộ con tim gan quá đọa đầy
Gởi về cho chị dăm ba xấp vải
Chị may áo cưới hay chị may áo tang
Gởi về cho em kẹo bánh thênh thang
Em ăn cho ngọt vì đời nhiều cay đắng
Con gởi về cho cha một manh áo trắng
Cha mặc một lần khi ra pháp trường phơi thây
Gởi về Việt Nam nước mắt đong đầy
Mơ ước một ngày quê hương sẽ thanh bình
Em gởi về cho anh một cây bút máy
Anh vẽ cuộc đời như ước vọng mong manh
Gởi về cho mẹ dăm gói chè xanh
Mẹ pha hộ con nước mắt đã khô cằn
Gởi về cho chị hộp diêm nhóm lửa
Chị đốt cuộc đời trong hoang lạnh mù sương
Gởi về cho em chiếc nhẫn yêu thương
Em bán cho đời tìm đường vượt biên
Con gởi về cho cha vài viên thuốc ngủ
Cha chôn cuộc đời trong trong xứ tù chung thân
Gởi về Việt Nam khúc hát ân cần
Mơ ước yên lành... trong giấc ngủ.... da... vàng....

L ần đầu nghe ‘chú’ hát đâu biết là nhạc của ai nhưng phải công nhận là hay! Nhạc như vậy mới gọi là nhạc chớ! Nghe tưởng tượng như tác giả ở hải ngoại vừa đi siêu thị về, lui cui đóng thùng, gởi về cho ba má, anh chị em người một chút… Vừa làm vừa nức nở!

Trong thâm tâm, ước gì mình cũng ‘may’ như tác giả, được có tiền, được đi siêu thị, mua rồi đóng một thùng quà gởi về nhà cứu đói. Mình muốn làm người gởi chớ hỏng muốn làm người được thăm nuôi đâu!

Sau nầy vọt được; mới biết bài nầy là của ông Việt Dũng. Rồi chiều nay nghe tin ổng mất ở Huê Kỳ, tại Bệnh viện thành phố Fountain Valley, quận Cam, tiểu bang California, hồi 10h35' sáng, ngày 20 tháng 12 năm 2013, chỉ mới 55 tuổi!

Nghe tin… như mình đang đi mà bị hụt chưn… lảo đảo muốn té!

Chưa hề được gặp ông, chỉ nghe nhạc của ông. Nhạc của ông là một phần đời kỷ niệm bi thiết đó của mình!

Xin cám ơn ông!
Ông là “Một chút quà cho quê hương!” 
Mà người viết được ‘ké’ vào trong đó một chút nước mắt khi nghe năm xưa! Và bây giờ khi nghe tin ông mất!

đoàn xuân thu.
melbourne


Một Chút Quà Cho Quê Hương _ Việt Dzũng - Trung Tâm Asia




Lang thang trên mạng:








Muốn gởi bài này cho bạn bè,
xin bấm mouse chọn
Twitter, email, Facebook hay Google+ 
ở lề bên trái.

Thursday, September 26, 2013

Cò trắng Ibis làm bậy tại Bankstown!


Liên Danh 3 Con Cua ::

Tuần qua, các bác tài đậu xe tại ngã ba đường Greenfield Pde, Chapel Rd South và Olympic Pde tại Bankstown, phía Tây thủ phủ Sydney, NSW đã phải nhanh chóng rửa xe, bằng không thì nó ‘sét’ lỗ chỗ, chỗ nầy một vết, chỗ kia một vết!



Cò Ibis trắng
(Hình Wikipedia)

Số là khi mùa xuân tới, nhiều đàn cò trắng Ibis, đến hẹn lại lên, tựu về Bankstown (chắc là dự lễ hội mùa xuân của loài cò chúng ta?!).

Cò trắng Ibis kéo từng đàn, chiếm trọn ngã ba đường Greenfield Pde, Chapel Rd South và Olympic Pde tại Bankstown.

Mấy chú, thiếm ‘cò’ nầy đậu trên cành cao và ghi dấu... chân ‘đã đến đây, đã rong chơi trong cuộc đời nầy’ bằng cách ‘ị’ những bãi phân để điểm trang khuôn mặt của mui xe; giống như người đẹp mặt hoa da phấn, trắng da vì bởi phấn dồi mà gặp phải trời lắc rắc mưa! Ố hết trơn màu da ‘mịn’ của em rồi!
Cưng xe, còn hơn cưng vợ. Vả lại chiếc xe của mình đâu có dán nhãn ‘bird’s toilet’ đâu mà mấy chú, thiếm cò nầy nỡ lòng nào làm ‘bậy’ như vậy; nên nhiều thị dân càm ràm quá. Hé-lô, xin mấy ‘tía non’, làm gì đi chớ!

Nhưng ông hội đồng ‘oui’ Dan Nguyen của thành phố Bankstown lại nói ‘No way’. Lý do là cò trắng Ibis là giống chim được Úc bảo vệ. Cấm sờ... Nên hội đồng thành phố đành chịu thua, không làm được gì hơn là… thắp thêm nhiều ngọn đèn trên các cành cây cho sáng để may ra các chú, thiếm cò trắng Ibis mắc cỡ, (đừng nhìn ‘thấy’ em rồi yêu em mãi?) mà tìm chỗ khác để giải bầu tâm sự hay chăng?

Liên Danh 3 Con Cua
(Nguồn 24 September 2013 Canterbury Bankstown Express)


Muốn gởi bài này cho bạn bè, 
xin bấm mouse chọn 
Twitter, email, Facebook hay Google+ 
ở lề bên trái.



Sunday, September 15, 2013

Tình xuân tuổi xế


Vũ Ngọc Văn::

Đã lâu lắm rồi, hôm nay tôi được tái ngộ quý bạn đọc bằng một bài truyện ngắn. Có lẽ khi đọc tựa đề TÌNH XUÂN TUỔI XẾ trên đây, độc giả cảm thấy có gì không ổn lắm. Tuổi đã xế bóng thì tình còn mặn nồng xuân xanh cái nỗi gì? Thú thật, từ khi tôi mon men tập tễnh viết văn đăng báo tính đến nay đã hơn hai mươi mấy năm rồi, kể từ truyện ngắn đầu tay “Tình chị duyên em”, đến “Hai mươi năm tình cũ”, “Tình vẫn trao em”, rồi “Tình vẫn trao sui” và đến nay ”Tình xuân tuổi xế”. Không biết cơ duyên nào đưa đẩy, tên truyện ngắn nào cuả tôi đều có một chữ “tình” trong đó. Có những lúc tình lãng mạn đắm đuối, khi thì tình éo le ngang trái, rồi có khi tình nuối tiếc dở dang. Thôi thì định mệnh an bài cả, mình có lẩn tránh thế nào cũng chẳng làm sao thoát ra được:

Trót mang lấy một chữ tình
Khăng khăng mình buộc lấy mình vô trong.

Mới đây, tôi được mời đến nhà một người bạn thân vùng Sunshine dự tiệc sinh nhật lục tuần. Trên bàn tiệc, chỉ vỏn vẹn bốn cặp vợ chồng bạn bè thâm giao là gia đình tôi, và gia đình ba người bạn thân khác tạm gọi là anh A chủ nhà, anh B và anh C. Tôi đối với ba anh này ngoài tình bạn vong niên còn thêm tình cùng chung màu cờ sắc áo quen nhau từ khi sang Úc. Riêng ba anh bạn trên còn có tình cảm thắm thiết gắn bó với nhau suốt bốn mươi năm trường: nhập ngũ từ thời tướng Nguyễn Khánh cầm quyền năm 1964, đến khi định cư tại Úc gặp lại nhau cùng cư ngụ chung một tiểu bang. Ngày nào quen nhau ở lứa tuổi đôi mươi khi vừa nhập ngũ, trưởng thành trong khói lửa chiến tranh đến khi sẩy đàn tan nghé, tan tác hoạn nạn mỗi người một nơi. Cuối cùng tái ngộ nhau cùng định cư tại thành phố Melbourne này, sau những năm dài làm việc vất vả để tạo lập cuộc sống mới, đến nay con cái đã trưởng thành và đã hoàn thành trách nhiệm dựng vợ gả chồng cho đàn con lập tổ ấm riêng, bạn bè càng cảm thấy gần gũi thân thiết với nhau hơn. Để cùng nhau trò chuyện, chia sẻ những tâm tư buồn vui thầm kín vì có những điều không thể thổ lộ cùng con cháu. Tuổi đã cao, chúng ta ngoài tình yêu thương vợ chồng, con cháu trong nhà còn vun đắp thêm tình bè bạn thâm giao. Trải qua bốn chục năm trường với bao vật đổi sao dời, tôi bâng khuâng nhìn họ ngày nào của một thời trai trẻ, bây giờ gặp gỡ ăn mừng sinh nhật sáu mươi trên đất khách mà lòng dâng tràn nguồn cảm hứng, ghi lại những mẫu tâm tình do họ kể cho nhau nghe trong bữa tiệc mà dạ bồi hồi không biết đặt tên truyện là “TìNH XUÂN TUỔI XẾ” hay là “TUỔI XẾ TìNH XIÊU” đây?!


“TìNH XUÂN TUỔI XẾ” hay là “TUỔI XẾ TìNH XIÊU”?
(Hình 
http://hoiquanphidung.com/)
Sau tuần rượu đầu cụng ly chúc mừng sinh nhật anh A chủ nhà, anh B đại diện anh em lên tiếng chúc:
- Thay mặt anh em, tôi thân chúc bạn A hôm nay vừa tròn 60 tuổi lúc nào cũng vui vẻ trẻ trung tráng kiện như hồi ngày nào bọn mình mới đi lính! Nhất là lúc nào cũng cho bà xã hài lòng như thời mới cưới, tôi mạn phép mượn thơ cụ Nguyễn côngTrứ sửa đổi vài chữ gửi tặng bạn hiền:
Hiền thê dục vấn lang niên kỷ
Tứ thập niên tiền nhị thập niên.

Cả bàn tiệc cười vang, anh C được dịp tiếp lời:
- Hay, hay lắm, bốn mươi năm về trước bạn hiền tôi mới hai mươi. Tôi cũng xin chúc anh A nhân sinh nhật lục tuần hôm nay, anh chị lúc nào cũng hạnh phúc mặn nồng như thuở mới quen nhau của thời gần 40 năm về trước. Tôi mượn bài thơ phổ nhạc này để tặng bạn hiền:
Nếu anh còn trẻ như năm cũ
Quyết đón em về sống với anh
Những quãng chiều buồn phơ phất lại
Anh đàn em hát níu xuân xanh.

Anh A cười vui hớn hở, đáp lời:
- Cám ơn các bạn. Những lời chúc của các bạn làm tôi nhớ đến Anh Thy với một nhạc phẩm ngày mới quen nhà tôi:
…Nhìn trùng dương dậy sóng
Lòng mơ ước em anh
Khi tàu xuôi bến cũ
Yêu áo trắng anh mang
Yêu vài câu hát buồn
Trong bài ca “Hoa Biển”
Và yêu chỉ mình …anh!
(Đừng gọi anh bằng chú)

Tôi lúc đó mới bắt đầu góp chuyện:
- Anh Thy là một trong những nhạc sĩ tài hoa của Hải Quân chúng ta. Chẳng thế mà trong cuốn Hải sử phát hành tại California vừa qua, chỉ đăng duy nhất một nhạc phẩm“Hoa Biển” cuả Anh Thy, chàng Trung sĩ Trọng Pháo Phạm Văn Khổn ngày trước. Mặc dù anh đã mất từ năm 1973, đã ba mươi mấy năm rồi nhưng anh đã để lại cho đời, cho Hải quân chúng ta một bài hát thật hay.

Anh B chúm chím cười nhìn vợ, góp chuyện:
- Đúngvậy, tôi thích nhất câu cuối cuả bài Hoa Biển: “Em ơi, giận hờn xem như hoa sóng tan trong đại dương” mà tôi vẫn thường hát cho nhà tôi nghe những khi bị vợ dỗi hờn. Kết quả một trăm phần trăm, Hoa Biển cất lên là nhà tôi có giận bao nhiêu cũng đều xí xoá hết. (Bạn ơi, tôi bảo là bạn chỉ hát có một câu duy nhất, nhưng hát bao nhiêu lần là còn tùy thuộc vào tài năng và tội trạng của bạn nữa chứ). Hát từ những ngày hai đứa mới quen nhau, yêu nhau, lấy nhau rồi sống bên nhau mấy chục năm trời mà bà ấy vẫn còn thích nghe không chán! Cảm ơn Anh Thy đã để lại cho Hải Quân chúng ta di sản vô giá này. Hoa Biển để dỗ dành người yêu, năn nỉ vợ hiền đều tuyệt. Chẳng thế mà ngày trước Anh Thy theo đoàn Tâm Lý Chiến Hải Quân đi công tác dân sự vụ trên chiếc Bệnh Viện Hạm HQ.400 khắp các vùng duyên hải, sông ngòi Việt Nam, đi đến đâu là các cô gái xuân thì đều nô nức đến xem trình diễn văn nghệ để chiêm ngưỡng tác giả bài Hoa Biển là ai?

Anh C tiếp lời:
- Ngoài AnhThy, chúng ta còn có Nguyễn-Vũ với những nhạc phẩm “Sao rơi trên biển”, “Thoáng giấc mơ hoa”; Trường Sa Nguyễn-Thìn với “Một lần xa bến”, “Muà Thu trong mưa”, nhạc sĩ nào cũng có nét tài hoa độc đáo riêng, cũng được nhiều người ái mộ. Chẳng thế mà Trường Sa tuy đang sống trong cảnh cô đơn vì goá vợ bên trời Canada giá rét, tuổi đã sáu bó rưỡi rồi, thế mà trong kỳ họp khoá Đệ Nhất Song Ngư kỷ niệm 40 năm tốt nghiệp ra trường tại Houston, Texas năm 2004 anh vẫn được các bà, các cô ân cần săn đón tỏ ý nâng khăn sửa túi cho nhạc sĩ hết quãng đời còn lại.

Anh B đôi mắt mơ màng, liếc nhìn vợ nói:
- Thế mới biết những con người nghệ sĩ bao giờ cũng được phái nữ ưu ái dành cho nhiều cảm tình nồng hậu. Thuở chúng ta mới đi lính, các cô gái Sài gòn hồi đó mê như điếu đổ hình ảnh oai hùng các chàng tài xế máy bay là do đọc cuốn “Đời Phi Công”. Nhà văn Toàn Phong đã làm nức lòng bao chàng trai thời đó hăm hở tình nguyện vào Không quân, ước mơ trở thành phi công với hy vọng được làm người yêu cuả “cô Phượng” nhân vật chính trong truyện!

Anh A tủm tỉm cười vui, cặp mắt mơ màng kể chuyện:


 Cựu Đại Tá Nguyễn Xuân Vinh , Tư Lệnh cũ của Không quân Việt nam
(Hình http://teolangthang.blogspot.com.au/)
- Mấy năm trước, cựu Đại Tá Nguyễn Xuân Vinh vị Tư Lệnh cũ của Không quân Việt nam có sang Úc thăm viếng anh em Không quân. Các anh chị trong Hội Không quân tiếp đón niềm nở gia đình người anh cả, nào là tiệc tùng, nào là đưa đi thăm viếng danh lam thắng cảnh… Tác giả “Đời Phi Công” đã làm cho các phi công đàn em cúi đầu tâm phục, khẩu phục bằng tấm chân tình đôn hậu, biểu lộ tình cảm thắm thiết của hai ông bà đối với nhau trước mặt mọi người, dù tuổi hạc đã cao trên bảy mươi rồi, nhưng ông bà vẫn âu yếm, xưng anh gọi em ngọt lịm. Tiếng “em” nghe ngọt hơn đường cát, mát hơn đường phèn, như hai người đang thời kỳ tán tỉnh nhau, làm cho các chị Không quân chạnh lòng ganh tị, cảm thấy thua thiệt vì ông xã chẳng bao giờ gọi mình tiếng “em” say đắm tình tứ đáng yêu đến như thế. Giá như được chồng gọi mình một lần tiếng “em” thiết tha ngọt lịm thế này, dẫu có chết ngay cũng cam lòng! Thế mới biết “anh hoa phát tiết ra ngoài”, con người tài hoa thì người bình thường chẳng thể nào sánh được. Thế mới hay tác giả “Đời phi công” đến nay vẫn sống hùng, sống mạnh còn “Hoa Biển” thân phận bọt bèo đành yểu mệnh ở đèo Rù Rì ngoài Nha Trang lâu lắm rồi!

Chị A chủ nhà nghe ông xã vui vẻ kể chuyện, khúc khích cười góp chuyện:
- Ngày xưa, các “cô Phượng” mê phi công là vì đọc cuốn Đời Phi Công cuả ông ấy. Nhưng em được biết, gia đình Hải Quân cũng có nhiều chị tên Phượng lắm cơ mà. Các “cô Phượng” này chỉ yêu Hoa Biển mà thôi, yêu kiếp sống hải hồ cuả các anh áo trắng, thích nghe kể chuyện trăng sao mây nước mỗi khi tàu về bến và những lời hưá hẹn làm quà tặng người yêu: “Nào là hái hoa biển về tặng em, nào là ngắt cánh sao trời dưới đáy trùng dương về cho em thêu áo…”. Anh A ơi, đêm nay sinh nhật cuả anh cũng là kỷ niệm 35 năm ngày cưới chúng mình. Hoa Biển cuả em có còn đẹp như thưở ban đầu không? Các anh chị ạ, anh A dạo này sao mà hay quên lắm, đêm đêm vợ có nhắc nhở cũng ậm ừ quên lãng, lại còn “cứ hẹn mai kia rồi mốt nọ” chán lắm cơ! Ôi còn đâu thưở ban đầu mới cưới anh vẫn thường thỏ thẻ bên tai em:
Ta yêu lắm Phượng hồng trên áo trắng
Khi đơn sơ môi Phượng đắn đo cười
Nhìn lá biếc Phượng thêu chùm đỏ thắm
Nghe trong hồn công chuá Phượng lên ngôi!
(Phượng vỹ - Duyên Anh)

Mọi người cất tiếng cười vang thích thú. Thấy chủ nhà cởi mở, anh B thừa dịp nói vô:
- Bạn tôi bây giờ vừa yêu hoa biển, vừa yêu thơ Thế Lữ để cảm thông cho một kiếp “Hổ nhớ rừng” gợi nhớ những ngày oanh liệt hào hùng cuả một thưở xa xưa:
Ta sống mãi trong niềm thương nỗi nhớ
Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già
Nhớ tiếng gió gào ngàn, nhớ giọng nguồn hét núi
Ôi những đêm trăng mờ bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống bóng trăng tan…

Anh A cũng ôm bụng cười ngất, đôi mắt mơ màng kể chuyện góp vui:
- Nhớ lại những năm tôi ở trong lực lượng Hải tuần, với những chuyến công tác đêm trên chiếc PTF xâm nhập vịnh Bắc Việt, anh em trên tàu đều thân thiết, quý mến nhau còn hơn anh em ruột thịt vì các chuyến công tác hiểm nguy, đi dễ khó về. Có một anh bạn nọ kể một câu chuyện ngày xưa mà nay tôi còn nhớ mãi về tình bạn như mấy đứa chúng mình. Này nhé, ngày xưa có hai người bạn rất thân chẳng may sinh ra trong thời chinh chiến loạn lạc. Một người vừa lấy vợ thì được lệnh quan phải lên đường nhập ngũ ra biên cương đánh giặc chống ngoại xâm. Anh ta đành gửi gấm vợ mình cho bạn thân may mắn ở lại, nhờ cậy bạn mình trông nom giúp đỡ trong thời gian mình vắng nhà. Buổi sáng ra đi, người chồng ân cần dặn dò trao gửi vợ mình cho bạn, nếu sau ba năm nếu thấy không về thì coi như đã chết, da ngựa bọc thây thì vợ mình thủ tiết như thế cũng đủ rồi, cứ yên lòng lấy chồng khác. Nói xong anh ta mở túi lấy ra một cái khoá, tạm gọi là khoá “trinh tiết” hay là “tiết hạnh khả phong” khoá lại rồi giao chìa khóa cho bạn mình cất giữ, sau ba năm không thấy trở về thì hãy mở khoá trả tự do cho vợ mình đi thêm bước nữa. Xong xuôi anh ta bịn rịn ôm hôn từ biệt người vợ trẻ, bắt tay từ giã bạn hiền, phóng lên lưng ngựa ra đi. Cảnh biệt ly đẹp não nùng và thơ mộng như trong truyện Kiều tả cảnh Thuý Kiều sụt sùi đưa tiễn Thúc Sinh:
Người lên ngưạ, kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san
Dặm hồng bụi cuốn chinh an
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh
Người về chiếc bóng năm canh
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.

Buổi biệt ly nào cũng buồn thảm, nước mắt đầy vơi nhưng kẻ ra đi vẫn cảm thấy an ủi yên lòng vì có vợ hiền, bạn thân quyến luyến tiễn đưa, dõi theo từng bước chân đi. Một lát sau, chinh phu ngoảnh đầu nhìn lại thì bóng người thân đã mờ nhạt cách xa:
Cùng ngoảnh lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh chỉ mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
(Chinh phụ ngâm)


Chiếc PTF3 của Hải quân Việt Nam Cộng Hoà
(Hình www.vietlandnews.net )
Thế rồi người chồng cưỡi ngựa ra biên cương đánh giặc, ra đi mới hơn một tiếng đồng hồ gì đó thì chàng bỗng nghe tiếng vó ngựa dồn dập đuổi theo, cát bụi mịt mù cùng tiếng gọi ơi ới sau lưng. Ngạc nhiên, người chồng ghì cương cho ngựa dừng lại đợi chờ, nhận ra bóng dáng bạn thân đang rối rít phóng ngựa đuổi theo. 

Đến nơi người bạn vừa thở hổn hển, vừa nói:

- Bạn hiền ơi! Bạn đã tin tôi trao chìa khoá cho tôi thì vui lòng trao cho đúng chìa, chứ bạn đưa tôi nhầm chìa thì kẹt tôi quá! Bạn đi rồi để tôi ở nhà hì hục loay hoay mở mãi mà không có ra!?
Thế nên bạn bè đã tin nhau thì tin cho trót, lỡ trao chìa khoá cho bạn rồi thì nên đưa chìa khoá thật, chứ nỡ lòng nào trao nhầm chìa khóa giả chỉ làm phiền lòng bạn quý phải cưỡi ngựa đuổi theo để đổi chìa khóa lại, vất vả lắm cơ!”
Mọi người ôm bụng cười nghiêng ngả.

Anh B thấy chủ nhà kể chuyện tình bạn dí dỏm ý nhị, nên cũng kể một chuyện khác góp vui:
- Thế mới biết tình bạn cuả anh A kể tôi thấy sao mà nó giống chuyện Lưu Bình & Dương Lễ thế nào. Nhưng mà tôi thắc mắc một điểm ở đoạn Dương Lễ bày ra một kế cho bạn mình nếm mùi khổ nhục, mong bạn từ bỏ thói ăn chơi lêu lổng mà quyết chí tu thân học hành để thi đỗ ra làm quan như ông bạn hống hách cuả mình. Thế nên khi Lưu Bình gặp một thiếu nữ trẻ đẹp (do ái thiếp cuả Dương Lễ cải trang) hai bên đã quyến luyến nhau, ngỏ ý yêu thương thề ước chung sống với nhau. Nàng đã xuất tiền ra làm nhà đắp xây tổ ấm, nuôi tằm, quay tơ không nề hà gian khổ cho chàng ăn học để ba năm sau tiễn đưa chàng ra kinh đô ứng thí. Cái cảnh một túp lều tranh, hai trái tim vàng thơ mộng và đẹp như bài ca dao:
Sáng trăng trải chiếu hai hàng
Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ

Cảnh tình nhân âu yếm sánh đôi bên nhau nhưng vẫn đè nén được ngọn lửa yêu đương đang ngùn ngụt bốc cháy trong lòng, nàng vẫn cương quyết khuyên chàng dốc tâm chăm lo đèn sách để mai sau thi cử đỗ đạt cho tròn mộng ước lứa đôi:
Em thường khuyên sớm khuyên trưa
Anh chưa thi đỗ, thì chưa… động phòng!

Theo tôi thì cảnh này không ổn lắm, chỉ có trong tiểu thuyết mà thôi. Chứ ngoài đời làm gì có cảnh hai kẻ yêu nhau chung sống trong một mái nhà, đêm ngày vai kề má áp kề cận bên nhau mà vẫn giữ một lòng thanh tịnh suốt ba năm? Làm sao chịu nổi cảnh mỡ treo bắt mèo nhịn đói, “em như hoa đẹp trong vườn cấm, anh khách si tình ngắm thế thôi” ngắm nhau suông rồi ngoan ngoãn chăm chỉ học hành, thử hỏi kinh sách, chữ nghĩa thánh hiền nào học cho vô? Thôi thì… khóa này anh không thi đỗ thì hẹn em khóa sau, khóa sau chưa đỗ thì khóa sau nữa, em ơi, yêu nhau đi, chiều hôm tối rồi, có phải đẹp và thực tế hơn không? Tôi mà như Lưu Bình sẽ mượn bài thơ “Giục Giã” cuả Xuân Diệu uốn ba tấc lưỡi năn nỉ giai nhân Châu Long:
Mau với chứ, vội vàng lên với chứ
Em, em ơi, tình non đã già rồi
Con chim hồng, trái tim nhỏ cuả tôi
Mau với chứ, thời gian không đứng đợi
Tình thổi gió, màu yêu lên phấp phới
Chỉ đôi ngày tình mới đã thành xưa
Nắng mọc chưa tin, hoa rụng không ngờ
Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt
Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết?
Những vườn xưa, nay đoạn tuyệt dấu hài
Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai
......
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm
Em vui lên răng nở ánh trăng rằm
Anh hút nhụy cuả mỗi giờ tình tự
Mau với chứ, vội vàng lên với chứ
Em, em ơi, tình non sắp già rồi.

Cả bàn tiệc cất tiếng cười vang thú vị. Anh C thấy hai bạn mình đêm nay ăn nói có duyên nên cùng cao hứng góp phần:
- Tình bạn của hai bạn vưà kể mới đẹp, mới đúng là chuyện của con người trên cõi đời tục lụy. Tôi xin góp vui kể một câu chuyện của một chàng thủy thủ cuối năm 1969 mới ra trường đổi về Vùng 4 Sông Ngòi tại bến Ninh Kiều, Cần Thơ. Một buổi chiều nọ, chàng thủy thủ nhà ta đang đi trong doanh trại, bỗng gặp một giai nhân mặt hoa da phấn nõn nà, mặc bộ đồ thủy thủ, đội nón polo trắng đang từ xa đi lại, dáng đi nhún nhảy, bộ ngực phập phồng. Chàng thủy thủ chính hiệu con nai vàng thấy người đẹp thủy thủ này hồn bỗng dưng si dại, ngẩn ngơ. Chàng vừa đi vừa ngắm nhìn giai nhân không chớp mắt, qua mặt nhau rồi mà chàng vẫn ngoái đầu vừa đi vừa nhìn lại. Thế rồi, bỗng một tiếng “bốp” vang lên, đầu chàng thủy thủ va vào cột đèn một cái đau điếng, anh chàng mới tỉnh giấc mơ hoa, lủi thủi trở lại phòng làm việc ôm đầu nhăn nhó.
Tối đó, chàng ta vừa thoa dầu cù là trên trán sưng to một cục bằng trái ổi, vừa suýt soa lật tờ bán nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hoà mới đăng bài thơ “Em chỉ yêu anh binh nhì” mà lòng đầy đê mê mơ mộng:
Em là phận gái thuyền quyên
Mười hai bến nước kén duyên bến nào?
Hằng đêm em vẫn ước ao
Người chồng lý tưởng em trao binh nhì
Em không mơ tưởng những gì
Mai vàng, mai bạc nữa chi cánh gà….

Đọc bài thơ xong, chàng cảm thấy bồi hồi xao xuyến, hỏi dò bạn bè trong đơn vị về thân thế giai nhân thủy thủ mà chàng vừa gặp ban chiều. Hoá ra đó là phu nhân Thiếu Tá Chỉ HuyTrưởng Giang Đoàn Xung Phong ở Long Xuyên theo chồng về họp tham mưu hàng tháng, chàng ta vì mới tân đáo nên bé cái lầm.
Sau này, chàng thủy thủ đó vượt biên và định cư tại Úc năm 1981 vẫn còn độc thân vui tính, vẫn lận đận về đường tình duyên. Các cô gái Việt nam sang Úc thời đó có giá hơn tôm tươi, một cô năm bảy cậu giành. Bốn trung tâm tiếp cư quanh thành phố Melbourne là Midway, Eastbridge, Wiltona và Enterprise tràn ngập các thanh niên Việt nam vào săn đón các bóng hồng từ các trại tị nạn mới sang. Chàng thủy thủ cũng học được kinh nghiệm đắng cay trên chốn tình trường, là tác giả bài thơ “Tỏ Tình” đăng báo gây sôi nổi một thời:
CHÀNG:
Anh cũng như em, một nỗi lòng
Cuộc đời băng giá lắm long đong
Nếu em cho phép thì anh sẽ:
Chia sớt cùng em cái lạnh lùng.
NÀNG;
No car, no job, no money
You can go home, don’t talk please!
I can’t love you, sorry so much
You have to love a factory.
Không xe, không việc lại không tì
Anh hãy về đi chớ nói gì
Đừng bảo yêu em buồn tủi lắm
Anh về yêu lấy kiếp cu-li !

Hơn hai chục năm sau, bài thơ Tỏ Tình trên đây được Mạnh Quỳnh phóng tác thành bài vọng cổ bằng tiếng Anh, thêm thắt một chút“no car, no job, no money, no home” hát và diễn chung với Phi Nhung và Nguyễn Ngọc Ngạn trên Paris By Night số 67.





Thấy các bạn vui vẻ kể chuyện, nói cười rộn rã chẳng lẽ tôi đành chịu lép, nhâm nhi ly rượu và ngồi im nghe chuyện mãi. Mọi người vừa cười vừa quay lại nhìn tôi như ngầm nhắc nhở. Cuối cùng tôi đành lên tiếng góp một chuyện vui:
- Đêm nay, tôi được nghe chuyện tình của các anh kể, chuyện nào cũng hay, cũng thú vị. Tôi xin kể ra đây một câu chuyện tình bằng thơ mà tôi đọc hồi năm 1986 cho các anh chị nghe nhân ngày sinh nhật sáu mươi của anh bạn chủ nhà. Hai bài thơ này kể lại một câu chuyện tình thơ mộng, lãng mạn nhưng cũng nhiều ngang trái, hận thù vì hai người trong cuộc yêu nhau trong thời chinh chiến. Buổi đầu thầm yêu nhau từ thời cách mạng mùa Thu năm 1946, đến năm 1954 quân Pháp đầu hàng chàng về thành sau đó di cư vào Nam, nàng từ khu chiến trở về Hà Nội thì người yêu đã xuống tàu há mồm vào Nam mất rồi. Sau đó, đất nước chia đôi, mỗi người một chiến tuyến khác nhau. Nàng là cán bộ cao cấp, sau đó làm dân biểu quốc hội Cộng sản miền Bắc. Chàng cũng là công chức cao cấp trong Bộ Thông Tin của chế độ miền Nam tự do, đến ngày 30/4/1975 theo đoàn tàu di tản qua Mỹ tị nạn, sống đời lưu lạc buồn tủi với vợ con cho đến ngày nay. Còn nàng cũng có gia đình, sau đó vào Nam công tác, vẫn dõi mắt tìm kiếm người xưa, nhưng hỡi ơi “Tìm anh như thể tìm chim, chim bay biển Bắc em tìm biển Nam” cố nhân đã bỏ nước ra đi lưu xứ mịt mù bên kia bờ Thái bình dương mất rồi. Yêu thương, hận tủi, oán hờn của một tình yêu thời chiến suốt bốn mươi năm dài mà hai kẻ yêu nhau tha thiết bị đẩy vào hai chiến tuyến hận thù đã thể hiện rõ nét qua bài thơ của nàng gửi tặng cố nhân, tưạ đề “Nghìn trùng xa cách tiếc thương nhau”. Bài thơ lục bát khá dài, khá hay và nhiều điển tích như truyện Kiều, nhưng cũng có vài ngôn từ của phe đối nghịch và lời lẽ trách móc nặng nề cố nhân:
Xa nhau lâu quá là lâu
Bốn mươi năm chửa gặp nhau một lần
Nhưng dù núi cách sông ngăn
Đường đi khác hướng tình thân không nhòa
Thuở nào hai đứa chúng ta
Kề vai sánh bước xông pha dặm ngàn
Dù không thệ hải minh san
Tình đồng chí, nghĩa kim lan mặn nồng
Lòng riêng, riêng những nhủ lòng
Rồi người dưới nguyệt chén đồng là đây…

Kế đó là những đoạn thơ kể lại những lần nàng khổ công lặn lội tìm kiếm người xưa “Miền Nam thăm thẳm chín lần ra vô”, sau đó thất vọng não nề khi biết chàng đã cùng đoàn người bỏ nước ra đi. Yêu cũng nhiều mà hận cũng lắm, sau cùng nàng lên giọng kẻ chiến thắng mắng mỏ người yêu:
Biết tin xúc động tột cùng
Giận thương mà lại thẹn thùng cho ai
Cách nhau biển lớn đường dài
Thì ngày đối diện hẳn ngoài ước mơ
Trùng phùng chẳng biết bao giờ
Giải lòng thương tiếc mượn thơ đôi vần
Trách ai không vững tinh thần
Một lầm, hai lỡ xa dần nẻo ngay
Thân voi ì ạch vũng lầy
Tình sâu đã phụ, nghĩa dầy cũng quên
Trách ai lập chí không bền
Nay thay, mai đổi chẳng nên tướng gì
Phải đâu vụng dại ngu si
Phải đâu ngại tiếng thị phi chê cười?
Khen ai tài trí hơn người
Mà loay hoay cả một đời uổng công?
Hỏi rằng có được gì không
Hay là chỉ mấy cái “lồng thiếu…dê”?

Còn chàng, sau bốn mươi năm xa cách, bỗng dưng nhận được bài thơ của cố nhân đăng trên báo, lòng cũng bồi hồi xốn xang, cũng ngập tràn thương hận. Chàng lúc đó đã là ông lão sáu mươi như các anh bạn ở đây, họa lại một bài thơ lục bát hồi âm đáp lễ cố nhân. Tuy nhiên, vì phải đón đỡ những vần thơ tấn công hiểm hóc cuả nàng nên bài thơ “Đập chén chia tay”của chàng bị lâm vào thế thụ động kém hay:
“Từ ngày đập chén chia tay
Bốn mươi năm đã vèo bay trước thềm
Quãng xa càng hoá xa thêm
Sau ngày cả nước bóng đêm mịt mùng
Thế nên khôn xiết lạ lùng
Thấy người xa mặt cách lòng chưa quên
Bồi hồi nhưng rất ngạc nhiên
Băn khoăn tự hỏi vì duyên cớ nào?
Bấy chầy vắng bặt âm hao
Bỗng dưng nức nở nghẹn ngào tiếc thương
Phải đâu là gái dung thường
Mà lìa ngó ý, còn vương tơ lòng…”

Bài thơ cuả chàng cũng dài như của nàng, nhưng chỉ chống đỡ chứ không nỡ mắng mỏ lại cố nhân. Còn chuyện chàng bị người xưa mắng là “mê lồng thiếu... g” thì chàng gân cổ lên cãi “Râu dài chưa hẳn chê lồng thiếu… dê”, ý nói Hồ chí Minh, lãnh tụ cuả nàng đâu có thần thánh gì, cũng “mê lồng thiếu… g” như bao người đàn ông khác. Chẳng thế mà có đứa con rơi sau này lên làm Tổng Bí Thư đó hay sao? Chẳng qua là nàng quá thương nhớ cố nhân, lặn lội tìm kiếm mấy chục năm trường không gặp, yêu quá biến thành hận, hờn ghen bóng gió nên mắng chàng cho qua cơn hận tủi. Có lẽ mấy câu thơ cuối bài của nàng nên dành tặng cho tướng Nguyễn Cao Kỳ thì hay hơn, dẫu sao chàng vẫn còn tư cách, liêm sỉ hơn tướng Kỳ nhiều lắm!

Sau này, tôi được biết chàng và nàng còn làm thêm một số bài thơ đăng báo gửi tặng nhau. Lời lẽ không còn trách móc hận thù mà đầy thiết tha âu yếm gửi cho nhau như hai người bạn cố tri cách xa nhau nửa vòng trái đất. Tính cho đến nay, hai người tuổi đã bát tuần, chúng ta thử tưởng tượng một ngày đẹp trời nào đó, chàng đặt chân về Hà Nội thăm lại người xưa, thăm lại một chuyện tình “sáu mươi năm tình cũ”, chắc chắn là hay, tình tiết éo le hơn hẳn truyện Kiều, thời gian xa nhau gần gấp bốn lần câu chuyện tình của Thúy Kiều và Kim Trọng “mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình”.
Chúng ta hãy hình dung ra cảnh chàng nay đã là ông lão tám mươi đóng vai Từ Thức về làng, trở về Hà Nội sau hơn nửa thế kỷ để gặp gỡ người yêu đầu đời, nào có khác chi cảnh sum họp Kim Trọng với Thúy Kiều ngày xưa:
Khi hương sớm, khi trà khuya,
Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên
......
Chàng còn nghĩ đến tình xa
Đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ
Nói chi kết tóc se tơ
Đã buồn cả ruột mà nhơ cả đời

Chàng và nàng cũng nên quên hết những người thân yêu vướng bận chung quanh để cùng nhau hưởng những giây phút chạnh lòng, cùng nhau dạo bước bên bờ hồ Hoàn Kiếm bồi hồi nhớ lại thuở xa xưa. Chàng sẽ run run cầm lấy bàn tay nàng, đôi mắt kèm nhèm nhìn thẳng vào gương mặt nhăn nheo da mồi má hóp cuả nàng, âu yếm cất lên tiếng hát nhạc phẩm “Niệm khúc cuối” cuả Ngô Thụy Miên tặng nàng: “Rồi mai đây tôi xin đưa em đến cuối cuộc đời…Tình ơi, dù sao, dù sao đi nưã, tôi vẫn yêu em…”.

Đêm cũng quá khuya, câu chuyện tâm tình của ba người bạn tôi nhân tiệc sinh nhật sáu mươi kể đến sáng mai cũng chưa hết. Giật mình nhìn lại computer, truyện tình tôi viết đầy kín 6 trang báo rồi, hết chỗ thêm vào hình ảnh, tôi xin mạn phép kết thúc nơi đây. Biết đâu có quý độc giả nào đó chau mày, bảo là viết chuyện dông dài, “con oanh học nói trên cành mỉa mai”, bão tố ập đến thì lại lắm nỗi oan trái trớ trêu. Cuộc đời như giấc mộng phù du, hãy trao tặng nhau những niềm vui, nụ cười. Tác giả đã qua rồi thời tuổi trẻ để viết lên những truyện tình diễm tuyệt éo le ngang trái. Biết đâu những mối tình già trên cõi đời này vẫn có những nét duyên ngầm, dí dỏm đáng yêu chứ nếu không thì cũng trở thành “tuổi xế tình xiêu”!

Vũ Ngọc Văn
(2005)
Muốn gởi bài này cho bạn bè, 
xin bấm mouse chọn 
Twitter, email, Facebook hay Google+ 
ở lề bên trái.




Friday, September 6, 2013

Hạm trưởng đa tình



Chắc bạn đọc còn nhớ:  hồi lâu lâu rồi cánh chim sải cánh Kim Nguyễn của blog Việt Luận tha một viên ngọc quý từ... Huê Kỳ về cho bà còn Miệt Dưới mình thưởng thức. Đó là truyện ngắn “Tình vẫn trao em” của Vũ Ngọc Văn.


Tác giả cho thấy khoảnh thời gian mấy chục năm vẫn chỉ rất ngắn ngủi vì cố nhân “ba mươi năm tình cũ” không rủ cũng về bên gang tấc. Và trái đất này rất nhỏ nhoi vì người tưởng ngàn trùng cách xa cả một Thái Bình Dương rổi một hôm vẫn ngồi chung bàn bên nhau ngay tại Úc. Bên nhau, nhưng hai người yêu cũ nay đều chắp cánh với người khác. Chàng được “sắp xếp ngồi chung bàn với vợ chồng nàng, [...] phải gượng vui đóng vai họ hàng nói cười tự nhiên như người trong nhà”.

Truyện ngắn này gần gủi và hay nên được đông bạn đọc blog Việt Luận tìm đọc. Từ tháng Sáu đến nay đã có hơn 200 lượt người đọc truyện “Tình vẫn trao em” trên blog Việt Luận.
Trái đất thêm một lần nữa vẫn tròn khi tác giả Vũ Ngọc Văn tình cờ bắt được đứa con tinh thần của mình rong chơi trên blog Việt Luận. Nhờ cái duyên này, hôm nay blog Việt Luận hân hạnh được tác giả kết duyên văn nghệ.
Tác giả Vũ Ngọc Văn viết email cho Og3t:
“Để kết tình duyên văn nghệ, tôi mới lục trong kho bài viết mới nhất của tôi (viết hồi tháng 5/2013) chuyển đến trang mạng của anh. Bài viết này tạm gọi là truyện ngắn, nhưng tác giả không dám hư cấu chút nào vì viết về chuyện tình của mấy ông lớn Hải Quân VN mình ngày trước.”
Chỉ một chữ “mình” trong email này đã cho thấy tình nghĩa của tác giả với binh chủng, quân đội và đất nước cũng như với người Miệt Dưới chúng ta.
Blog Việt Luận xin cám ơn tác giả Vũ Ngọc Văn và mong được tác giả góp thêm một tay với.... blog mình nghen.
Og3t


Vũ Ngọc Văn::

Có lẽ không ít  quý hạm trưởng ngày xưa trong Hải Quân Việt Nam cảm thấy nhột nhạt khi đọc tên truyện ngắn này, khẽ liếc phu nhân ngồi cạnh rồi rủa thầm: “Thằng em mình hôm nay cạn đề tài để viết hay sao mà viết chuyện quái quỷ gì đây? Không biết có mình trong truyện của nó không đây?”.
Mà đúng vậy, đã từ lâu tôi cạn nguồn cảm hứng khi viết về đề tài lính biển vì đã hơn 38 năm qua xa con tàu, xa vùng biển mẹ, xa quê hương. Những kỷ niệm xa xưa của một thời quân ngũ chỉ còn lại những hình ảnh chập chùng trong ký ức. Viết văn có thể ví như làm kiếp con tằm, được ăn dâu rồi mới nhả tơ, bây giờ lá dâu không còn để ăn nữa thì lấy gì mà nhả tơ đây?!


Sinh viên sỹ quan Hải Quân
tại quân trường Nha Trang

(Hình do tác giả cung cấp)

Tuy nhiên cũng có nhiều chuyện vẫn còn in sâu trong trí, tưởng như mới hôm qua nhất là những chuyện tình vương vấn xa xưa của các bạn bè hoặc cấp chỉ huy. Hải Quân từ lâu vẫn nổi tiếng là lính hào hoa đa tình, từ lính đến quan hầu như ai cũng đều thế cả, ngay từ thời còn trong quân trường Nha Trang, quân trường chính của quân chủng đã đào tạo được 26 khóa sĩ quan, một số khóa hạ sĩ quan chuyên nghiệp và sơ đẳng cho các ngành nghề chuyên môn thủy thủ. Nha Trang có phong cảnh hữu tình, có rặng thùy dương, bãi biển cát trắng phau mịn màng và nhất là màu nước biển xanh biếc không những đẹp nhất Việt Nam như lời cố Y Sĩ Hải Quân Trung Tá Trần Ngươn Phiêu cựu Y Sĩ Trưởng Hải Quân đã từng du học bên Pháp và viếng thăm nhiều bến bờ đã mô tả Nha Trang là một trong những bãi biển đẹp trên thế giới.

AnchorCó lẽ vì tình yêu mến quê hương đậm đà cùng tài văn chương diễn đạt lôi cuốn của ông đã làm cho Nha Trang một nét đẹp quyến rũ tuyệt vời. Ngoài ra Nha Trang là thành phố của lính nhờ địa thế, khí hậu thích hợp nên đã tập trung rất nhiều quân trường như Không Quân, Hải Quân, Lực Lượng Đặc Biệt, Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế cùng huấn khu Dục Mỹ nên những ngày cuối tuần tràn ngập cảnh các khóa sinh đi trên các đường phố. Đẹp nhất vẫn là các khóa sinh Hải Quân với quân phục tiểu lễ trắng tinh đi bờ sánh bước bên cạnh các giai nhân trên các con đường Duy Tân, Độc Lập. Đây cũng là dịp cho các sĩ quan tương lai thực tập bài học ở quân trường khi sánh vai cùng các người đẹp Nha thành: “an officer and a gentleman” khi còn trong giai đoạn làm nòng nọc chưa đứt đuôi. Bây giờ đã 40 năm qua xa rời trường mẹ, có người đã 50 năm dài hoặc 60 năm từ khi thụ huấn tại Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang của một thời xa lắc xa lơ ấy, các chàng thủy thủ tập sự năm xưa hoặc các chàng sinh viên sĩ quan một thuở, có thấy lòng bồi hồi khi nhớ về mái trường xưa còn ghi những dấu chân kỷ niệm của một tình yêu đầu đời:
Thôi đã tan rồi vạn gót hương
Của người đẹp đến tự muôn phương
Tan rồi những bước không hò hẹn
Đã bước cùng ta một nẻo đường.
(thơ Xuân Diệu)

Anchor Các bạn một thời cùng học quân trường Nha Trang còn nhớ chăng những ngày cấm trại trực gác với các bóng hồng ghé thăm dập dìu nơi phòng tiếp tân. Hay là trong những đêm dạ vũ liên hoan, những dịp lễ lạc, những đêm lễ mãn khóa tốt nghiệp đã dìu giai nhân ra sàn nhảy cùng nhau vũ khúc nghê thường:
Ánh đèn tha thướt,
Lưng mềm não nuột dáng tơ
Hàng chân lả lướt
Đê mê hồn gửi cánh tay hờ
***
Âm ba gờn gợn nhỏ
Ánh sáng phai phai dần
Bốn tường gương điên đảo bóng giai nhân
Lui đôi vai, tiến đôi chân,
Siết đôi tay, ngã đôi thân,
Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió...
(Say – VŨ HOÀNG CHƯƠNG)

Các bạn khóa sinh Hải quân năm xưa còn nhớ chăng những dịp mua vé xem văn nghệ tất niên do các trường trung học Nha Trang tổ chức đã cho chúng ta nhiều dịp gặp gỡ làm quen với các cô nữ sinh thời đó. Các cô nữ sinh lớp đệ nhất năm nào đã nhí nhảnh tinh nghịch gọi các chàng lính thủy trẻ măng bằng danh xưng “chú” rồi xưng “cháu” ngọt ngào, làm cho các chàng lính biển mới tò te phải uốn ba tấc lưỡi Tô Tần để thuyết phục các nàng “Đừng Gọi Anh Bằng Chú” như trong bài hát của Anh Thy: “Ông chú ơi! Cô cháu thẹn thùng đôi môi, thôi nhé mình là anh em. Nhưng đừng quên rằng: em anh hay khóc đấy. Ghét anh ghê, khéo nịnh em quá thôi, nói gì thêm nữa đi...”. Cô em đã muốn nghe anh hãy nói nhiều thêm một chút, nhưng mỗi khi nghe rồi lại che miệng cười châm chọc:
Đường nào dài bằng đường Trần Hưng Đạo
Lính nào xạo bằng lính Hải Quân?

Anchor Thế rồi đường đời muôn vạn nẻo, các chàng Hải Quân sau khi mãn khóa ra trường rời xa trường mẹ tuy nhiều tình cảm vấn vương nhưng “tình chỉ đẹp mỗi khi còn dang dở”. Nha Trang đã không thể cột chặt chân các chàng trai yêu mộng hải hồ để lại cho lòng ai một trời nuối tiếc lỡ làng. Chỉ có một số nhỏ Hải Quân nhận Nha Trang làm miền quê ngoại vì cưới được người mình yêu. Sau khi ra trường, kẻ thì lên đường đi thực tập với Hạm Đội Hoa Kỳ, người thì tân đáo các đơn vị duyên hải, sông ngòi, người thuyên chuyển xuống các chiến hạm đâu còn dịp nào thăm lại trường xưa. Các sĩ quan ra trường xuống các chiến hạm với đôi vai nặng nề trách nhiệm, được giao phó các chức vụ để học hỏi kinh nghiệm, kiến thức chỉ huy đến mờ người. Từ chức vụ nhỏ nhất là sĩ quan ẩm thực, tiếp nối dần qua các ngành vận chuyển, trọng pháo, tiếp liệu, nội vụ, truyền tin, hải hành, hành quân... Mỗi chức vụ là một sự học hỏi không ngừng về huấn thị điều hành chiến hạm để trang bị cho mình một kiến thức thuần thục vững vàng để mai sau trở thành một hạm trưởng tương lai. Từ một sĩ quan mới ra trường đến khi trở thành một hạm trưởng phải trải qua nhiều năm trường học hỏi không ngừng, nhưng ở đời “sự học cũng như người chèo thuyền trên giòng nước ngược” nên có học mới có đường thăng tiến. Từ việc học hỏi từ cấp chỉ huy, bạn bè đồng đội, các sĩ quan phải tự mình học hàm thụ khi đứng trong các nhiệm sở vận chuyển trên boong tàu để quan sát cách cặp cầu hay tách bến của hạm trưởng. Mình sẽ quan sát hướng gió, sóng, dòng nước cùng tình trạng kỹ thuật chiến hạm rồi sẽ tính toán cặp cầu hay tách bến như thế nào, máy tiến máy lùi ra sao, các dây cột tàu dài ngắn ra sao, trái độn sẽ nằm vị trí nào cao thấp ra sao,... Sau đó lặng lẽ quan sát cách cặp cầu của hạm trưởng để cuối cùng tìm ra sự khác biệt để phân tích thu thập thêm kiến thức cùng những kinh nghiệm ứng xử để mai này cờ đến tay thì mình sẽ phất đẹp, không tốn nhiều thời gian để học nữa. Dĩ nhiên con đường hoạn lộ để làm hạm trưởng còn dài, còn xa vì còn trải qua nhiều chặng chông gai thử thách nữa. Sau nhiều năm đi biển nếm những cơn biển động, sóng gió dập vùi, những cơn say sóng ói đến lả người nhưng vì trách nhiệm nặng nề trên vai, phải cố gắng đứng vững để chỉ huy trong những phiên trực hải hành, lèo lái con tàu trong cơn bão tố, cùng trau dồi kiến thức hải nghiệp để được cấp trên tin cậy không phải ai cũng dễ vượt qua. Sau mấy năm trường đổ mồ hôi, sôi nước mắt mới được cất nhắc lên làm sĩ quan đệ tam và được gửi đi thụ huấn một khóa chỉ huy tham mưu, cuối cùng mới được thượng cấp xem giò xem cẳng để chỉ định vào chức vụ hạm phó.

Anchor Như thế con đường thăng tiến để được làm một hạm trưởng chiến hạm phải là những sĩ quan Hải Quân ưu tú, có tinh thần kỷ luật, trách nhiệm cao cùng kinh nghiệm hải nghiệp vững vàng mới có vinh dự đeo huy hiệu hạm trưởng trên ngực áo với hàng chữ DANH DỰ - KỶ LUẬT – TÀI ĐỨC. Trong Hải Quân chúng ta, có rất nhiều vị sĩ quan cấp tá, thậm chí một số vị đã mang cấp Đại Tá mà chưa một lần vinh dự mang huy hiệu hạm trưởng trên ngực áo để le lói với đời. Có lẽ vì số lượng chiến hạm có hạn, vì mình không đủ thâm niên hải vụ nên đành cam phận làm kiếp lính biển mắc cạn trên các đơn vị bờ, làm người hùng trên các chiến trường sông rạch...


(Hình do tác giả cũng cấp)
Hạm Đội Hải Quân Việt Nam trước năm 1975 có khoảng 86 chiến hạm cho 3 hải đội: tuần duyên, chuyển vận và tuần dương. Ngoài 19 chiếc Giang Vận Hạm LCU mà vị chỉ huy chiến hạm này được gọi bằng “thuyền trưởng”, các chiến hạm khác từ Tuần Duyên Hạm PGM trở lên vị chỉ huy mới được hưởng danh xưng cao quý là “hạm trưởng”. Theo thông lệ từ trước, cuộc đời hạm trưởng bắt đầu từ hạm trưởng chiến hạm nhỏ nhất PGM. Sau một thời gian thử thách ít nhất là một năm, nếu vị hạm trưởng đó chịu được sóng gió, biển động bão bùng để không làm đơn xin giã từ chức vụ hạm trưởng, không mắc những lỗi lầm nghiêm trọng như đưa tàu lên cạn, ủi vô bãi đá ngầm thì sẽ được chỉ định làm hạm trưởng một chiến hạm lớn hơn như Hỏa Vận Hạm chở dầu đi tiếp tế cho các đơn vị tiếp vận Hải Quân, Trợ Chiến Hạm hoặc Giang Pháo Hạm tham dự các cuộc hành quân yểm trợ hải pháo vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Khoảng một năm sau, hoàn thành tốt nhiệm vụ sẽ được nhận lãnh chiến hạm lớn hơn một bậc là Hải Vận Hạm LSM chuyên chở đồ tiếp tế khắp 4 quân khu, kế tiếp thăng lên làm hạm trưởng Hộ Tống Hạm PCE trách nhiệm tuần dương xa bờ. Sau một nhiệm kỳ làm hạm trưởng PCE sẽ được thăng lên làm hạm trưởng Dương Vận Hạm LST hoặc Trợ Vận Hạm là những chiến hạm to lớn nhất của Hạm Đội. Cuối cùng thăng lên làm hạm trưởng các chiến hạm tối tân, oai hùng nhất là Tuần Dương Hạm WHEC hoặc Khu Trục Hạm DER. Khi nào các vị hạm trưởng WHEC hoặc DER thuyên chuyển lên bờ thì các ông hạm LST mới có chỗ trống để được đề cử đôn lên thay thế, còn không thì chỉ ngồi chờ dài cổ. Khi các vị hạm trưởng Tuần Dương Hạm hoặc Khu Trục Hạm thuyên chuyển lên các đơn vị bờ, các vị nguyên hạm trưởng này sẽ thảnh thơi giã từ cuộc đời lênh đênh trôi nổi, giã biệt các bến bờ xa lạ ghi dấu các bước chân kỷ niệm để trở về gần gũi bên vợ con, để được phu nhân săn sóc cơm ngày hai bữa, không còn cảnh ăn uống thất thường với phở chín, phở tái, nem công, chả phụng nữa. Đọc đến đây, chắc chắn có vị hạm trưởng mắng rằng:”Thằng em dóc tổ, ta là vị hạm trưởng chung tình, cơm nhà quà vợ. Đi tàu đói meo, cơm còn không có mà ăn, có đâu còn vòi phở, nem chả ở đâu có sẵn mà ăn?!”. Có lẽ vị hạm trưởng đó trách cứ đúng lắm, dưới chiến hạm ai cũng “đói meo” từ quan đến lính, nhưng mỗi khi tàu cặp bến, hạm trưởng lên bờ đi chơi chung với các vị hạm trưởng khác hoặc các giới chức thẩm quyền địa phương mời mọc, quý vị ăn gì thì đàn em đâu có được phép đi theo để mà kể cho quý độc giả biết.


(Hình do tác giả cũng cấp)

Như đã trình bày ở trên, cuộc đời của một sĩ quan Hải Quân từ khi ra trường đến khi trở thành một vị hạm trưởng uy nghi của một chiến hạm tối tân nhất Hạm Đội HQVN trải qua rất nhiều thử thách cam go, rèn luyện kiến thức hải nghiệp liên tiếp mới đạt được đến đỉnh cao sự nghiệp. Chỉ một số ít sĩ quan ưu tú mới vượt qua những năm tháng dài kiên trì theo con tàu tuần tiễu ngày đêm trong các vùng biển quê hương với những cơn biển động, cô đơn mệt mỏi nhưng với ý chí sắt đá đã vượt thắng đến đỉnh vinh quang.
Trong tất cả sĩ quan tốt nghiệp quân trường Nha Trang, chỉ có khóa 11 SQHQ/NT là thành công nhất trong hạm đội, đã lấn lướt các khóa đàn anh với số đông áp đảo chỉ huy nhiều chiến hạm từ lớn đến nhỏ, các khóa đàn anh cũng như đàn em đều ngã mũ chào thua. Các khóa đầu tiên tốt nghiệp tại Nha Trang, ra trường mau chóng được chỉ huy các chiếc Trục Lôi Hạm hoặc Hộ Tống Hạm PC nhưng đã phế thải hồi thập niên 1960 vì lỗi thời. Riêng khóa 11 có vị đã từng làm hạm trưởng liên tiếp 7 chiến hạm, đoạt chức vô địch trong Hải Quân Việt Nam chúng ta. Đó là Hải Quân Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh đã từng tham dự trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974. Hạm Trưởng Quỳnh đã chỉ huy đủ loại chiến hạm từ chiếc nhỏ nhất PGM đến loại WHEC, đó là: HQ.611, HQ.471, HQ.230, HQ.406, HQ.12, HQ.800 và HQ.5. Các vị hạm trưởng các chiếc Tuần Dương Hạm khác chỉ nắm quyền chỉ huy 6 loại chiến hạm là Hải Quân Trung Tá Đinh Mạnh Hùng lần lượt chỉ huy HQ.609, HQ.472, HQ.229, HQ.401, HQ.502 và cuối cùng là HQ.2; Hải Quân Trung Tá Trương Hữu Quýnh chỉ huy 6 chiến hạm: HQ.602, HQ.228, HQ.405, HQ.09, HQ.502 và HQ.17. Ba vị hạm trưởng khác cũng thuộc khóa 11 nắm quyền chỉ huy các chiếc Tuần Dương Hạm hay lẫm liệt hơn Khu Trục Hạm là người đầu tiên và duy nhất của khóa 11 nhưng cuộc đời hải nghiệp chỉ chỉ huy 5 chiến hạm mà thôi. Đó là Hải Quân Trung Tá Vũ Hữu San Hạm Trưởng HQ.613, HQ.229, HQ.11, HQ.504 và Khu Trục Hạm HQ.4; Hải Quân Trung Tá Lê Văn Quí Hạm Trưởng HQ.607, HQ.330, HQ.402, HQ.801 và HQ.15; Hải Quân Trung Tá Trần Trọng Hải Hạm Trưởng HQ.608, HQ.114, HQ.13, HQ.503 và cuối cùng HQ.16 nhưng đã bàn giao quyền chỉ huy HQ.16 cho Hải Quân Trung Tá Lê Văn Thì (K.9 SQHQ/NT) trong những tuần lễ cuối cùng của cuộc chiến.

Anchor Đọc đến đây, có lẽ các vị đàn anh của khóa 11 động lòng vì cuộc đời đi biển của một số vị này cũng oanh liệt chẳng kém ai nhất là các vị khóa 8, có vị cũng từng làm hạm trưởng Tuần Dương Hạm nhưng tính sổ thống kê lại phải công nhận còn thua kém những đàn em mình vì những đàn em này sinh nhằm thời nên được chỉ huy nhiều chiến hạm, còn các vị khóa trên vì thâm niên cấp bậc quá cao nên phải lên bờ nhận lãnh các chức vụ ngồi chơi xơi nước, nhường hạm đội cho các khóa sau vẫy vùng ngang dọc.
Trên mỗi chiến hạm, uy quyền tuyệt đối đều nằm trong tay hạm trưởng, mệnh lệnh từ hạm trưởng ban ra từ hạm phó trở xuống phải triệt để thi hành. Uy quyền hạm trưởng biểu hiện rõ nét nơi đài chỉ huy với chiếc ghế bọc da êm ái, được gắn dính liền với sàn đài chỉ huy, có tay dựa và xoay chuyển vòng quanh chỉ dành riêng cho hạm trưởng mà thôi, ai ấm ớ ngồi vào là lãnh củ, hải quy đã quy định rõ ràng như thế. Từ hạm phó trở xuống đi phiên đều phải đứng 4 tiếng đồng hồ thăm thẳm, đôi chân mỏi rã rời, chới với ngả nghiêng theo từng đợt sóng. Những khi chiến hạm hải hành trong cơn biển động, từng đợt sóng cao phủ trùm chiến hạm, nhân viên đi phiên vật vã, bơ phờ ngả nghiêng theo những cái lắc lư, đôi tay bám cứng thành tàu, hạm trưởng ngồi tỉnh bơ trên ghế, thoải mái phì phà điếu thuốc. Có những đêm khuya đi ca cách mạng từ 12 giờ đến 4 giờ sáng, giờ này chắc hạm trưởng ngủ say dưới phòng, cái ghế hạm trưởng đu đưa như mời gọi, thèm lắm nhưng không ai dám ngồi, bạn nào bạo gan ngồi vào lỡ bị hạm trưởng bất chợt lên bắt gặp là sáng hôm sau có màn được gọi lên phòng hạm trưởng trình diện để nghe giảng một bài học về quân kỷ, về hải quy, về tinh thần trách nhiệm và cuối cùng được thân ái ban cho 4 ngày trọng cấm vì tội “ngồi ghế hạm trưởng”. Nếu thuộc cấp phạm lỗi ấm ức chưa chịu chào kính lui ra, cứ đứng phân trần biện bạch vì một lỗi lầm không đáng phạt, có thể sẽ bị hạm trưởng ngứa mắt gia tăng thành 8 củ vì cái tội cãi bướng. Tuy nhiên cũng có một số hạm trưởng biết tỏng cái tật “vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm” nhất là những đêm khuya lạnh lẽo, thuộc cấp đi ca trên đài chỉ huy thường lén ngồi lên ghế của mình cho thỏa tính tò mò thời tuổi trẻ, để cùng tận hưởng những giây phút hiếm hoi được ngồi ghế hạm trưởng thử xem cảm giác ra sao? Chờ đến khi mình được lên chức hạm trưởng thì lâu quá, biết chờ đến bao giờ, có khi tết Congo mới tới. Những vị hạm trưởng này rất ngại mỗi khi bước chân lên đài chỉ huy trong những đêm khuya vắng, trừ khi có chuyện cần lắm mới lên, đều chậm rãi nện mạnh bước chân, tằng hắng để tránh bắt gặp những cảnh khó coi. Có vị còn cẩn thận hơn, gọi loa thông báo cho đài chỉ huy:”Hạm Trưởng năm phút nữa sẽ lên đài chỉ huy” để các “thằng em láo lếu” của mình đủ thì giờ ổn định vào vị trí cũ, không phải chứng kiến cảnh nhố nhăng, nếu làm lơ thì khó làm việc, còn la rầy thì tội nghiệp cho các thằng em còn trẻ người non dạ. Hạm trưởng ngồi lên chiếc ghế của mình mà vẫn thấy còn ấm hơi người. Mà nghĩ cũng đúng, cái gì nghiêm cấm thì các chàng trẻ tuổi háo hức tò mò lén lút làm cho bằng được, có từ khi tổ tiên loài người là ông Adam dại dột nghe lời bà Eva ăn trái cấm vậy, biết rằng Chúa sẽ phạt nhưng ăn trước đã, mọi sự tính sau. Nhớ hồi còn thụ huấn quân trường Nha Trang, rất nhiều khóa sinh được cho đi bờ chính thức vẫn không thích bằng đi bờ lậu bằng cách lén lút chui rào, dù chỉ lang thang xuống Chụtt ăn tô phở rồi mua ổ bánh mì thịt cho bạn bè rồi trở về quân trường trực gác tiếp, vẫn cảm thấy thích thú bội phần, “đã” làm sao. Đến đây thế nào cũng có những ông thầy “nghiêm khắc hắc ám” một thời như thầy Đỗ Kiểm, Lê Phụng, Trần Văn Sơn hoặc các “hung thần khóa 8” như thầy MTT, MML, NTL, NVP thắc mắc:”Thằng em này học ở Nha Trang hồi nào mà sao mình không biết nó kìa? Thằng em chui rào ở chỗ nào mà mình không bắt tại trận để bây giờ kể chuyện om sòm?”. Thú thực, đàn em đâu có dại dột mà kể ra, chui rào ở vọng gác nào quý thầy biết được cho lính tạp dịch ra rào bít lại, lấy gì mà chui? Kể lại một chút kỷ niệm quân trường thân yêu để chúng ta gợi nhớ lại một thời rất xa trong dĩ vãng của những người thủy thủ năm xưa.

Anchor Có lẽ quý độc giả sốt ruột vì quá lâu kẻ viết bài này chỉ kể chuyện dông dài, chưa nói gì đến chuyện của các vị hạm trưởng đa tình. Hải Quân từ ngàn xưa đến nay đều bị thiên hạ gán cho cái tiếng đào hoa đa tình, quý hạm trưởng với quyền cao chức trọng, uy quyền một cõi, lênh đênh phiêu bạt đủ mọi bến bờ xa lạ khắp mọi nơi trong nước cũng như những khi xuất ngoại trong những chuyến viễn du thì hai chữ đa tình là cái chắc rồi, có còn gì mà chối cãi. Quý bà hạm trưởng có lẽ cũng biết và chấp nhận điều ấy, lấy chồng tài hoa lênh đênh nhiều bờ nhiều bến, miễn sao con tàu đừng quên cái bến chính là bến Sài Gòn sau những chuyến công tác dài lâu xa nhà trở về bến xưa. Như nhà văn Vũ Thất từng là hạm trưởng của khóa 11 đã viết cuốn tiểu thuyết “Đời Thủy Thủ” kể lại cuộc đời một sĩ quan Hải Quân mới ra trường chỉ trong thời gian ngắn ngủi chưa đầy hai năm đã trải qua 4 mối tình liên tiếp với những cảnh yêu đương nóng bỏng cuồng nhiệt, quý cô đọc thấy hết hồn sao mà đào hoa quá vậy. Nhưng ở đời cái gì chợt đến rồi chợt đi nhanh như một cơn gió thoảng, cuối cùng tình vẫn cô đơn. Nhưng nói đa tình có lẽ sẽ oan ức cho một số vị hạm trưởng, có vị rất chung tình đã bày tỏ tình yêu đích thực của mình đến người bạn trăm năm. Như một vị hạm trưởng khóa 8, một cựu hạm trưởng HQ.17 cũng là vị thuyền trưởng điều khiển con tàu Việt Nam Thương Tín từ đảo Guam trở về quê hương với một niềm ước mong duy nhất được sum họp với vợ con khi tàn cuộc chiến. Vị hạm trưởng này đã bày tỏ tình yêu chân thực với người vợ trong cuốn hồi ký “Việt Nam Thương Tín Con Tàu Định Mệnh” kể lại những nỗi đoạn trường đắng cay tủi nhục khi lấy một quyết định sai lầm trở về Việt Nam để được sum họp với gia đinh để rồi trả giá bằng 13 năm tù tội, trong lúc vợ con đói khổ, tan tác với những cảnh não lòng, cuối cùng phải ra đi rời bỏ quê hương một lần nữa theo diện HO cùng gia đình lưu lạc sống trên đất Mỹ. Cuốn hồi ký này có hai đoạn văn làm độc giả bồi hồi xúc cảm, đầu tiên khi anh kể lại đám cưới của anh tại nhà thờ Đức Bà thủ đô Sài Gòn năm 1964, vị linh mục chủ tế khi cử hành thánh lễ hôn phối cho anh đã giảng cho anh nghe:”Vợ chồng phải thương yêu nhau suốt đời, phải biết hy sinh, thông cảm; vui cùng hưởng, gian nan cùng chịu...”. Có lẽ bài giảng trên đã thấm sâu vào tim óc của anh nên quyết định quay về cố hương trong những tháng ngày di tản buồn thảm trên đảo Guam là thế. Đoạn văn thứ hai là khi anh kể về cuộc đời hạm trưởng của anh qua nhiều chiến hạm đến chiếc sau cùng là HQ.17. Mỗi khi chiến hạm mãn công tác trở về Sài Gòn anh đã thấy lòng rộn ràng: ”Từ ngoài biển khơi, khi tôi vừa nhìn thấy ánh đèn chớp tắt của ngọn hải đăng Vũng Tàu là lòng tôi rạo rực, mong sớm đến giây phút tái ngộ với vợ con...”. Chắc các bạn Hải Quân một thuở năm xưa cũng có những giờ phút đẹp tuyệt vời này khi chiến hạm sau một chuyến công tác tuần dương đi xa dài đằng đẵng, nay được lệnh trở về bến cũ để nghỉ ngơi, sửa chữa. Chiến hạm khi từ miền Trung trở về, lúc từ vùng biển Phú Quốc chạy vòng qua mũi Cà Mau rồi hướng về phía Bắc, hoặc từ Côn Sơn sau chuyến công tác tuần tiễu bảo vệ giàn khoan dầu, hoặc từ đảo Trường Sa trực chỉ hướng Tây tiến về Vũng Tàu. Khi nhìn thấy ánh đèn hải đăng Vũng Tàu là cảm thấy lòng rộn lên một niềm vui, bao mệt mỏi đều tan biến. Dù cho con tàu có chạy hai máy tiến full, nhưng với sự nôn nóng mong chờ ai cũng cảm thấy con tàu sao mà chạy chậm quá!

Anchor Đó là những nét đẹp của một vị hạm trưởng chung tình diễn tả nỗi lòng lúc nào cũng thương nhớ nghĩ đến vợ con. Cũng có một vị hạm trưởng khác, hạm trưởng một chiếc Trợ Vận Hạm “số hiệu 9 nút” cũng từng nặng lòng lo lắng cho vợ con như thế. Trong cơn quốc biến, dù đã chỉ huy một chiến hạm to lớn có đủ vợ con mang theo cùng di tản, nhưng trong một phút sai lầm đã quyết định quay về để rồi chịu bao cay đắng nát lòng, đưa thân vào vòng tù tội, vợ con nheo nhóc, chia lìa cuối cùng mới được đoàn tụ tại Úc châu. Giờ đây ôn lại chuyện cũ như một giấc mơ. Hơn 50 năm về trước, vị hạm trưởng này có một mối tình đầu đời tuyệt đẹp với một giai nhân đất Nha Trang, một tiệm sách trên đường Độc Lập năm nào. Nhưng rồi tình yêu kia tuy mãnh liệt nhưng không đủ mạnh để trói chân chàng sinh viên sĩ quan yêu mộng hải hồ, để người đẹp kia mòn mỏi chờ trông. Bây giờ mỗi người một phương trời cách biệt, cùng lưu lạc nơi xứ người, người đẹp năm xưa vẫn âm thầm ôm nỗi niềm riêng, thỉnh thoảng thăm hỏi bạn bè quen biết cố nhân nay có còn mạnh giỏi không? Mới đây, trong lần tái ngộ các bạn cùng khóa sau 38 năm cách biệt, các bạn từ phương xa lặn lội đến Úc châu tận miền Nam bán cầu để gặp gỡ một người bạn tài hoa nhiều lận đận. Buổi gặp gỡ ngắn ngủi nhưng đầy cảm động của những chàng trai trẻ chung mái quân trường Nha Trang 52 năm về trước, bây giờ gặp lại trong buổi chiều tàn, cũng như bóng hoàng hôn cuộc đời mờ ảo chập chùng trước mặt. Có thể có cố nhân của năm mươi năm về trước từ buổi tốt nghiệp ra trường, chia tay một thoáng đã trở thành mối tình chia biệt năm mươi năm, tái ngộ nhau chỉ với một lời thăm hỏi: ”Anh có mạnh khỏe không?” cũng đủ làm ấm lòng nhau cho lần gặp lại như lời thơ của cụ Nguyễn Công Trứ:“Ngũ thập niên tiền nhị thập tam”.

Anchor Trên văn đàn hải ngoại, chúng ta được đọc một chuyện tình có thật ngoài đời, thật cảm động và cũng nhiều éo le ngang trái. Hai kẻ yêu nhau của một tình yêu đầu đời, chân thật nhưng cũng nhiều vụng dại, cuối cùng chỉ vì một chút hiểu lầm làm cho cuộc tình chia biệt suốt 40 năm. Chuyện tình của vị Đại Tá Không Quân Đặng Duy Lạc khi ông viết tùy bút “Giòng Đời” kể về một mối tình học trò của mình khi chưa nhập ngũ đăng trên giai phẩm Ngàn Sao ở Houston, Texas. Duyên trời xui khiến tờ báo trên lọt vào tay người yêu cũ đang sống tại Sài Gòn đọc được. Với nỗi niềm riêng dâng tràn xúc cảm, cố nhân ký tên “Nga –Sài Gòn” đã viết bài “Hồi Âm Giòng Đời” để kể lể tình yêu một thuở gửi đến cố nhân đăng trên báo Ngày Nay năm 1996. Đại Tá Lạc đọc được bài báo này, có lẽ vì những cảm xúc tiếc nuối ăn năn, thương cảm số kiếp hẩm hiu của người yêu cũ đã quá xúc động lên cơn đau tim thành người thiên cổ tính đến nay đã 17 mùa lá rụng. Đây có lẽ là một chuyện tình thời chinh chiến đẹp nhất trong thế hệ chúng ta kể về tình yêu ngang trái của hai kẻ yêu nhau không cùng chiến tuyến đã trở thành giai thoại được ca tụng trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại, các báo điện tử thỉnh thoảng đều đăng lại. Có lẽ trong Hải Quân chúng ta cũng có những chuyện tình đẹp không kém nhưng chưa có người viết ra, bây giờ thời đại internet đã phổ thông, các chàng lính thủy năm xưa bắt chước Đại Tá Lạc thử viết một bài tùy bút “Giòng Đời” của chính mình gửi lên mạng. Không chừng vừa gửi tối nay thì sáng mai thức dậy đã thấy “Hồi Âm Giòng Đời” mới toanh nóng hổi đáp lễ lại cố nhân, mà không những chỉ một mà còn nhiều “Hồi Âm Giòng Đời” liên tiếp trên mạng. Lúc đó các vị lính biển năm xưa, hay các vị hạm trưởng đa tình một thưở sẽ bóp trán, cố moi trong trí nhớ cùn mòn của mình để nhớ “người xưa”, “người đi qua đời tôi” là ai thế nhỉ?
Cũng có một vị hạm trưởng một chiếc Trợ Vận Hạm “số hiệu 8 nút” khác, chiến hạm neo tại Nhà Bè trong những ngày tàn cuộc chiến trước 30-04-1975. Chiến hạm neo chỉ nhận lệnh đặc biệt từ vị Tư Lệnh Hải Quân Phó Đô Đốc Chung Tấn Cang mà thôi. Vị hạm trưởng đa tình nhưng rất kín miệng có tới ba bà vợ nhưng tài tình đến nỗi ba bà lại không biết nhau. Trước ngày di tản năm ngày, hạm trưởng âm thầm đưa hai bà vợ xuống tàu trước, bà cả đưa vào phòng riêng của hạm trưởng, bà nhỏ giấu dưới hầm chiến xa. Ông hạm trưởng còn tính thêm một nước cờ cao, nếu mọi chuyện êm thắm sẽ đưa bà thứ ba xuống. Nào ngờ mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên, đứa con trai của bà vợ cả để ở trong phòng hạm trưởng cảm thấy tù túng, bực bội mới thơ thẩn đi lên boong tàu ngắm cảnh hóng mát. Bất ngờ nó gặp một đứa con trai khác mặt mũi giống mình như đúc. Thằng bé ngẩn ngơ bèn về phòng kể chuyện cho mẹ nghe. Bà cả thẫn thờ, nửa tin nửa ngờ mới cùng con trai đi tìm hiểu thực hư. Bất ngờ bắt gặp một gia đình khác của hạm trưởng đang ở dưới hầm chiến xa. Máu ghen nổi lên, huyên náo cả chiến hạm, đến tai thượng cấp. Lòng tin yêu chồng mình một dạ chung tình bỗng chốc tan thành mây khói đã đem đến tai họa cho cả gia đình. Hạm Trưởng bị cách chức lập tức vì tội “đưa gia đình xuống chiến hạm không xin phép”. Thế là hạm trưởng phải đưa toàn bộ gia đình hai bà rời khỏi chiến hạm, giao quyền cho người khác chỉ huy. Cuối cùng cả gia đình bị kẹt lại, vị hạm trưởng đa tình phải lên đường đi tù cải tạo suốt mười năm, tài hoa cho lắm thì cũng tai họa đến nhiều. Sau bao oan khiên cay đắng chịu đựng những cảnh đoạn trường, hạm trưởng cùng gia đình bà vợ cả được lên đường sang Mỹ theo diện HO, hai bà vợ kia đành kẹt lại quê hương. Cuộc đời tan hợp chia ly như trêu chọc khách đa tình, bạn bè đến thăm thường hỏi đùa: “Hai người vợ kia của bạn đâu? Chừng nào qua?” thì hạm trưởng chỉ cười tươi đáp lời:“Tại cái số đa đoan, trời bắt thế nên đành chịu”:
Kiếp xưa đã vụng đường tu
Kiếp này phải chịu đền bù thế thôi
Dẫu sao bình đã vỡ rồi
Đem thân mà trả nợ đời cho xong
(Kiều)

Thế mới biết những khách đa tình nhiều mưu trí nhưng cuộc đời cũng lắm đa đoan vì bị ông trời bắt phạt như trong truyện Kiều:
Trót mang lấy một chữ tình
Khăng khăng mình buộc lấy mình vô trong
Cho nên những chốn thong dong
Ở không yên ổn, ngồi không vững vàng
Ma đưa lối, quỷ đưa đàng
Chỉ tìm những chốn đoạn tràng mà đi.

Mà nghĩ cũng đúng, chữ tình đem đến cho ta lắm niềm vui nhưng cũng mang lại nhiều khổ lụy. Vị hạm trưởng đa tình nhưng vẫn lo lắng chu toàn bổn phận, muốn đưa các bà vợ cùng di tản theo mình, thương ai lo lắng đầy đủ cho người ấy mà, giống như cảnh Thúy Kiều trao duyên gửi phận cho Thúc Sinh:
Thương sao cho trọn thì thương
Tính sao cho vẹn mọi đường thì vâng”.
Sinh rằng: “Hay nói đè chừng,
Lòng đây, lòng đấy chưa từng hay sao
Đường xa chớ ngại Ngô Lào
Trăm điều hãy cứ trông vào một ta
Đã gần chi có đường xa
Đá vàng đã quyết, phong ba cũng liều”.

Anchor Chúng ta thử tưởng tượng ra cảnh vị hạm trưởng kia đưa được hai bà vợ kia di tản sang Mỹ êm thắm với tài năng mưu trí của mình thì cảnh hai bà sống chung dưới một mái nhà không phải là một điều khó thực hiện. Vị hạm trưởng sẽ đem hết tài năng nghị lực nuôi nấng cả đại gia đình, chỉ khó một điều là dàn xếp hai bà làm sao cho êm thắm mỗi khi màn đêm buông xuống. Chứ cái cảnh bà lớn nằm một phòng cùng với hạm trưởng, cửa phòng khóa chặt, trong bước ra không được mà ở ngoài bước vô cũng không xong. Bà nhỏ nằm phòng dưới cách ly diệu vợi làm sao ba người ngủ cho ngon giấc. Bà lớn khóa kín cửa phòng, chìa khóa giấu vào trong ruột tượng quấn vòng quanh bụng mấy vòng thì chồng làm sao lấy trộm chìa khóa để xuống phòng dưới tâm sự cùng với bà nhỏ đây? Ôi, cái cảnh đêm khuya thanh vắng mà mỡ treo, hai con mèo cùng nhịn đói não lòng làm sao! Có lẽ bà nhỏ sẽ mở lời lên tiếng trước:
Thuyền kia có nhớ bến không?
Muốn qua thăm bến mà không có đò.

Có lẽ vị hạm trưởng đa tình kia bồi hồi thương cảm cho người vợ trẻ của mình nhưng vì tình cảnh khó khăn đành thúc thủ bất lực trước mưu cao của bà vợ cả:
Muốn đi buôn bán cho vui
Sông có trạm gác ai ơi... cũng đành!

Bà vợ cả cũng không ngủ được, khi nghe hai người lời qua tiếng lại trao đổi nỗi lòng, cũng động lòng thương cảm, bày ra một giải pháp để hai bên cùng có lợi:
Ai kia muốn bán với buôn
Qua sông nộp thuế thì xuôi chứ gì!

Bà cả vẽ ra một giải pháp quá hay, ông chồng muốn qua với bà nhỏ thì cứ việc tự do, muốn đi bao lâu cũng được. Chỉ có điều trước khi đi nhớ làm bổn phận, đóng thuế trước đã thì tha hồ đi buôn bán. Bà nhỏ nghe lời bà cả khuyến dụ ngọt ngào cũng toan đồng ý. Nhưng chợt nhớ ra, đóng thuế trước rồi tới phiên mình còn hưởng cơm thừa canh cặn, còn nên cơm cháo gì nên lớn tiếng đáp lời:
Không buôn với bán thì thôi
Qua sông hết vốn, còn xuôi... mốc xì!

Bây giờ chúng ta cùng chung tâm sự của một kẻ đa tình, nhưng là tình yêu quê hương, tình yêu dân tộc Việt Nam vẫn đậm đà khắc sâu trong tâm tưởng. Những tình yêu ngày nào của một thời trai trẻ kể lại chỉ để đùa vui cho những năm tháng dài lưu lạc.

Vũ Ngọc Văn
May 2013
Muốn gởi bài này cho bạn bè, 
xin bấm mouse chọn 
Twitter, email, Facebook hay Google+ 
ở lề bên trái.